Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP An Bình - chi nhánh Vĩnh Phúc. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Ngân hàng TMCP An Bình - chi nhánh Vĩnh Phúc. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Lịch sử nhân loại đã chứng kiến một cuộc đổi thay kỳ diệu, để rồi kết quả của những sự chuyển mình quá nhiều thế kỷ ấy chính là hệ thống các ngân hàng hiện đại ngày nay với vị trí là “mạch máu của nền kinh tế quốc dân”. Không phải ngẫu nhiên mà ngân hàng lại ở vào vị trí trụ cột quyết định sự tồn vong của nền kinh tế đất nước như vậy. Chính bề dày lịch sử thai nghén, ra đời, tồn tại và phát triển cũng như tính chất đặc thù là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ đã đương nhiên đặt ngân hàng vào vị trí huyết mạch đó. Hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, phức tạp và luôn thay đổi để bắt kịp sự đổi thay đến chóng mặt của nền kinh tế.
Mỗi một nền kinh tế có một đặc thù riêng, vả chăng tập quán và luật pháp ở mỗi quốc gia một khác nên đã nảy sinh nhiều quan niệm, nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng. Luật TCTD Việt Nam ghi rõ: “Ngân hàng là một loại hình TCTD được phép thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”. Trong khái niệm này, hoạt động ngân hàng được giải thích tại Luật ngân hàng nhà nước “ là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Theo Điều 20 Khoản 2 Luật các Tổ chức tín dụng cho biết ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường 5 xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán. Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/07/2009 quy định: "Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.” Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại chủ yếu là nhận tiền gửi và cho vay vốn đầu tư. Tuy nhiên cũng có những thay đổi cho phù hợp với sự phát triển khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội và nhu cầu của của khách hàng. Nhờ có các ngân hàng thương mại mà các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước được thực hiện một cách nhanh chóng và kịp thời từ đó việc kiểm soát các hoạt động của các doanh nghiệp được dễ dàng đúng pháp luật.
Theo Điều 4 Khoản 2 và 3 Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung ngày 16/06/2010): Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận, theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Như vậy, có thể nói ngân hàng thương mại là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường, nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chức năng chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại Đồng hành với sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa và tiền tệ cũng như sự phát triển của các chế độ xã hội chức năng của ngân hàng thương mại ngày càng phong phú, mở rộng và hoàn thiện. Tuy nhiên, xét về bản chất, ngân hàng thương mại có các chức năng cơ bản sau đây: 6 Ngân hàng thương mại là loại hình trung gian tài chính làm nhiệm vụ thu hút tiền gửi và tiết kiệm cho nền kinh tế: Đây có thể coi là một trong những chức năng đặc trưng của NHTM.
Theo đó, các cá nhân dân cư có các khoản tiền dành dụm mà chưa sử dụng, các doanh nghiệp có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi có thể gửi vào ngân hàng dưới hình thức mở các tài khoản khác nhau: tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiền gửi thanh toán … Mục đích gửi tiền có thể là khác nhau nhưng tựu trung lại là để an toàn tránh trách nhiệm phải bảo quản tài sản, hưởng lãi cho các khoản tiền gửi và sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho các tác nhân trong nền kinh tế: Có thể nói hoạt động tín dụng sinh lời chủ yếu của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại truyền thống và là chức năng quan trọng nhất của các ngân hàng hiện đại ngày nay. Nhờ thế mạnh huy động được một lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế qua việc nhận tiền gửi hay đi vay, các ngân hàng sử dụng số tiền ấy để cho vay các cá nhân, các tổ chức kinh tế cần vốn để đầu tư các nhu cầu như: mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định, đầu tư nhu cầu vốn lưu động, nhu cầu tiêu dùng … và đa dạng các nhu cầu khác. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cũng ngày càng phát triển muôn hình muôn vẻ: tín dụng thấu chi, tín dụng trung dài hạn, tín dụng chiết khấu, tín dụng thuê mua … Vốn tín dụng của các ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình tái sản suất trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại … song song góp phần đẩy mạnh đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân cư.
Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng: Chức năng này xuất phát từ chính chức năng đầu tiên của ngân hàng là nhận tiền gửi. Các cá nhân, tổ chức kinh tế trên cơ sở mở các tài khoản tiền 7 gửi thanh toán hay các tài khoản tiền gửi phục vụ giao dịch khi có nhu cầu thanh toán có thể ủy quyền cho ngân hàng thực hiện thay mình: thu hộ, chi hộ… Theo các quan điểm luật pháp ở hầu hết các nước, thì chỉ có các ngân hàng mới được phép mở tài khoản thanh toán hay các tài khoản giao dịch cho kháchhàng mà không một định chế nào được phép làm điều này. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thƣơng mại Các ngân hàng thương mại thực hiện rất nhiều hoạt động nghiệp vụ, trong đó có các hoạt động chủ yếu như sau: 1. Tạo lập nguồn vốn Vốn của ngân hàng thương mại gồm có: Vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác; mỗi loại vốn đều có một tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
* Vốn tự có Vốn tự có của ngân hàng thương mại gồm vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung - là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, ngân hàng có thể chủ động sử dụng vào các mục đích khác nhau như: Trang bị cơ sở vật chất, tài sản cố định của ngân hàng, cho vay và đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác, với chức năng bảo vệ vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp thua lỗ và còn là một trong những căn cứ quyết định quy mô tài sản có của mỗi ngân hàng. Như vậy, quy mô, sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực và thế phát triển của ngân hàng thương mại.
* Vốn huy động Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua tín dụng, thanh toán, 8 các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn kinh doanh. Đặc điểm của vốn huy động là nó không thuộc sở hữu của ngân hàng thương mại nhưng chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng và là nguồn vốn quan trọng nhất trong số các nguồn vốn thu hút từ bên ngoài của ngân hàng thương mại. Vốn huy động là nguồn chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng không, nó không mang tính ổn định mà luôn luôn biến động, do đó, ngân hàng thương mại cần thông qua các công cụ tài chính với mức lãi suất khác nhau, thời hạn hoàn trả khác nhau để có thể huy động tối đa nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng. Nghiệp vụ huy động vốn vô cùng đa dạng với các loại hình: - Tiền gửi - Tiền gửi tiết kiệm.
- Phát hành giấy tờ có giá. a/ Tiền gửi: - Tiền gửi thanh toán là khoản tiền được gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán chi trả phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh thường xuyên, an toàn và thuận tiện. Tiền gửi này chiếm đa số trong vốn tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức gửi tiền vào ngân hàng với mục đích sử dụng các dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp. Với loại tiền gửi này thì người gửi tiền có thể phát hành séc, uỷ nhiệm chi và các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác để thực hiện chi trả hàng hóa dịch vụ.
Số dư tiền gửi trên tài khoản này thường xuyên biến động và khách hàng có thể rút vốn bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên các khoản tiền gửi thanh toán tạo cho ngân hàng một lượng vốn rất lớn nên các ngân hàng cần tích cực thu hút nguồn vốn này.