Nghiên cứu thành phần và đề xuất giải pháp quản lý sâu hại cây keo tai tượng acacia mangium tại xã tân an huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang

Nghiên cứu thành phần và giải pháp quản lý sâu hại cây keo tai tượng acacia mangium tại xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

87
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý sâu hại cây keo tai tượng Acacia mangium

Cây keo tai tượng (Acacia mangium) là một trong những loài cây lâm nghiệp quan trọng tại Việt Nam, đặc biệt là ở xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Việc quản lý sâu hại cây keo tai tượng là một thách thức lớn đối với nông nghiệp bền vững. Sâu hại không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn gây thiệt hại kinh tế cho người trồng. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp quản lý sâu hại là cần thiết để bảo vệ cây trồng và nâng cao hiệu quả kinh tế.

1.1. Tình hình sâu hại cây keo tai tượng tại Tân An

Tại xã Tân An, tình hình sâu hại cây keo tai tượng đang diễn ra phức tạp. Các loài sâu hại chính như sâu nâu vạch xám (Speiredonia retorta) và sâu đo (Biston suppressaria) đã gây ra thiệt hại lớn. Theo thống kê, mật độ sâu hại tăng cao vào mùa mưa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của cây trồng.

1.2. Tầm quan trọng của cây keo tai tượng trong nông nghiệp

Cây keo tai tượng không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất và bảo vệ môi trường. Với chu kỳ sinh trưởng ngắn và khả năng thích nghi tốt, cây keo tai tượng được nhiều hộ dân lựa chọn trồng. Tuy nhiên, sự xuất hiện của sâu hại đã đặt ra nhiều thách thức cho việc phát triển bền vững.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý sâu hại cây keo tai tượng

Quản lý sâu hại cây keo tai tượng tại Tân An đang gặp nhiều khó khăn. Các biện pháp truyền thống như phun thuốc hóa học không chỉ tốn kém mà còn gây hại cho môi trường. Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng của các loài sâu hại đã làm cho việc kiểm soát trở nên khó khăn hơn. Cần có những giải pháp hiệu quả và bền vững hơn để đối phó với tình trạng này.

2.1. Những khó khăn trong việc kiểm soát sâu hại

Việc kiểm soát sâu hại gặp khó khăn do sự đa dạng của các loài sâu và sự kháng thuốc của chúng. Nhiều nông dân vẫn còn phụ thuộc vào thuốc hóa học, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

2.2. Tác động của sâu hại đến năng suất cây trồng

Sâu hại không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng gỗ. Nhiều hộ dân đã phải chịu thiệt hại lớn do sâu hại, dẫn đến giảm thu nhập và khó khăn trong việc duy trì sản xuất.

III. Phương pháp quản lý sâu hại hiệu quả cho cây keo tai tượng

Để quản lý sâu hại cây keo tai tượng hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp đa dạng và bền vững. Các biện pháp sinh học, vật lý và hóa học cần được kết hợp một cách hợp lý để đạt được hiệu quả cao nhất. Việc áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một trong những giải pháp khả thi.

3.1. Biện pháp sinh học trong quản lý sâu hại

Biện pháp sinh học như nuôi thả kiến vàng (Oecophylla smaragdina) đã cho thấy hiệu quả trong việc kiểm soát sâu hại. Kết quả thử nghiệm cho thấy mật độ sâu nâu vạch xám giảm đáng kể khi áp dụng biện pháp này.

3.2. Biện pháp vật lý và cơ giới

Sử dụng hộp nhử mối là một trong những biện pháp vật lý hiệu quả. Các tổ mối được đặt trong hộp nhử đã bị tiêu diệt hoàn toàn, giúp giảm thiểu sự phá hoại của mối đối với cây trồng.

3.3. Quản lý dịch hại tổng hợp IPM

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là phương pháp kết hợp nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát sâu hại một cách hiệu quả và bền vững. IPM không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại mà còn bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Tân An

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các biện pháp quản lý sâu hại tại Tân An đã mang lại hiệu quả tích cực. Mật độ sâu hại giảm đáng kể, giúp cây keo tai tượng phát triển tốt hơn. Các hộ dân đã nhận thấy sự cải thiện trong năng suất và chất lượng gỗ.

4.1. Kết quả thử nghiệm biện pháp sinh học

Thử nghiệm nuôi thả kiến vàng đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Mật độ sâu nâu vạch xám giảm từ 1,03 con/cây xuống 0,1 con/cây, tỷ lệ cây bị hại cũng giảm đáng kể.

4.2. Đánh giá hiệu quả của biện pháp vật lý

Biện pháp sử dụng hộp nhử mối đã chứng minh tính hiệu quả khi toàn bộ tổ mối thử nghiệm bị tiêu diệt hoàn toàn sau 21 ngày. Điều này cho thấy biện pháp vật lý có thể là một giải pháp khả thi trong quản lý sâu hại.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong quản lý sâu hại

Quản lý sâu hại cây keo tai tượng tại Tân An cần được tiếp tục nghiên cứu và cải tiến. Việc áp dụng các biện pháp bền vững sẽ giúp bảo vệ cây trồng và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân. Tương lai, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và người dân để triển khai các giải pháp quản lý hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phát triển các biện pháp quản lý mới, hiệu quả hơn. Việc theo dõi và đánh giá thường xuyên tình hình sâu hại cũng rất quan trọng để có những điều chỉnh kịp thời.

5.2. Hướng đi bền vững cho nông nghiệp

Hướng đi bền vững trong nông nghiệp không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân áp dụng các biện pháp quản lý sâu hại hiệu quả.

15/07/2025
Nghiên cứu thành phần và đề xuất giải pháp quản lý sâu hại cây keo tai tượng acacia mangium tại xã tân an huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho nền văn minh nông nghiệp phát triển. Nhƣng nông nghiệp càng phát triển thì con ngƣời phải đối mặt với dịch hại do côn trùng gây ra. Mức độ gây hại của chúng lớn đến nỗi con ngƣời phải tìm hiểu và nghiên cứu về côn trùng để giảm thiểu tác hại của chúng và mở mang tri thức của con ngƣời về thế giới tự nhiên. Những ghi chép đầu tiên về côn trùng đã đƣợc ngƣời Syrie (vào khoảng những năm 3000 TCN) ghi lại về các cuộc di cƣ khổng lồ và sức phá hoại ghê gớm của những đàn châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria).

Năm 2500 TCN, ngƣời Xume đã bắt đầu dùng lƣu huỳnh để diệt trừ sâu bọ và ve bét. Trong các cuốn sách nghiên cứu của nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristoteles (384 - 322 TCN) đã hệ thống hóa và gọi tên đƣợc 60 loài côn trùng. Ông gọi chúng là những loài chân đốt. Những ghi chép và nghiên cứu về côn trùng đã có từ thời cổ đại nhƣng phải đến tận đầu thế kỷ 17, con ngƣời mới thực sự quan tâm về nghiên cứu côn trùng và đã có rất nhiều tài liệu đƣợc phát hành trong thời gian này.

Nhà triết học Carl von Linne (1707 - 1778) đã xuất bản cuốn sách “Systema naturae”. Ông là ngƣời đầu tiên phân loại động vật, trong đó có côn trùng một cách hiện 3 đại và dễ hiểu. Trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” suất bản lần thứ 10, Linne đã nêu ra cách gọi tên khoa học của các loài sinh vật. Năm 1793, tác phẩm: “Mối quan hệ giữa cấu tạo của hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng” của Sprengel (1750 - 1816) lần đầu tiên nói về vai trò của côn trùng trong quá trình thụ phấn của hoa.

Trong các thế kỷ tiếp theo, đều có những công trình nghiên cứu về côn trùng của các nhà khoa học nhƣ: Lamarck thế kỷ XIX, Handlirich thế kỷ XX, Krepton (1904), Weber (1938) đã góp phần phân loại côn trùng. Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745. Hội côn trùng Nga thành lập năm 1859. Các cuộc hành trình của các nhà nghiên cứu côn trùng Nga: Potarin (1899 - 1976), Provorovski (1895 - 1979), Kozlov (1883 - 1921) đã xuất bản những ấn phẩm về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền tây Trung Quốc.

Thế kỷ XX ghi nhận sự đột phá về các công trình nghiên cứu về côn trùng ở châu Âu, châu Mỹ gồm 40 tập, ở Madagatsca gồm 6 tập, quần đảo Hawoai, Ấn Độ và nhiều nƣớc khác. Năm 1910-1940 các tác giả Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240000 loài in trong 31 tập. Ilinski xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng”. Năm 1950 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã xuất bản tập “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” của các tác giả L.Ap-non-di và G.

Tại Trung Quốc, môn côn trùng lâm nghiệp đƣợc đƣa vào giảng dạy trong các trƣờng đại học về lâm nghiệp từ năm 1952, từ đó việc nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp đƣợc đẩy mạnh. Năm 1959, Trƣơng Chấp Trung viết cuốn “Sâm lâm côn trùng học” sau đó cuốn sách này đƣợc viết lại nhiều lần. Tác phẩm đã giới thiệu về hình thái, tập tính sinh học và các biện pháp phòng trừ nhiều loại sâu phá hoại các loài cây rừng. 4 Năm 1962 nhà khoa học ngƣời Rumani M.Ionescu phát hành cuốn “Côn trùng học”.

Tác phẩm có đề cập đến phân loại họ Bọ lá (Chrysomelidae) có 24000 loài và đƣợc tác giả mô tả 14 loài. Năm 1965, Viện Hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng ở châu Âu, trong đó tập thứ 5 chuyên về phân loại Bộ Cánh cứng (Coleoptera), xây dựng bảng tra 1350 loài thuộc họ Bọ lá (Chrysomelidae).N boronxop đã viết giáo trình “Côn trùng rừng” đề cập đến nhiều loài côn trùng thuộc Bộ Canhs cứng hại cây rừng nhƣ: Mọt, xén tóc, sâu đinh, bọ lá,…. Năm 1966, Bey-Bienko đã mô tả 300000 loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng. Trên đây là một số mốc lịch sử nổi bật về sự phát triển của ngành nghiên cứu côn trùng trên thế giới.

Côn trùng là lớp động vật có số lƣợng loài lớn nhất và phân bố rộng rãi trên thế giới. Do đó các tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất phong phú và đa dạng.2 Khái quát tình hình nghiên cứu về côn trùng ở Việt Nam Côn trùng ở Việt Nam bắt đầu đƣợc nghiên cứu vào cuối thế kỷ XIX thời Pháp thuộc. Năm 1904 đoàn nghiên cứu tổng hợp Mission Parie đã công bố cuốn “Côn trùng chí Đông Dƣơng”. Cuốn sách ghi nhận 1020 loài trong đó có 541 loài thuộc Bộ Cánh cứng, 168 loài thuộc Bộ Cánh vảy, 139 loài chuồn chuồn, 59 loài mối, 55 loài thuộc Bộ Cánh màng, 9 loài thuộc Bộ Hai cánh và 49 loài thuộc các bộ khác.

Ngƣời Pháp đã thành lập các phòng, viện nghiên cứu nhƣ: Phòng nghiên cứu côn trùng, Trạm nghiên cứu côn trùng Chợ Ghềnh, Phòng nghiên cứu côn trùng thuộc Viện khảo cứu khoa học Sài Gòn. Từ năm 1961-1968 Bộ nông nghiệp đã tiến hành các cuộc điều tra cơ bản xác định đƣợc 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ, 20 bộ khác nhau. Năm 1967, xuất bản giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của Phạm Ngọc Anh. Năm 1987, cuốn “Côn trùng rừng Việt Nam” của Thái Bang Hoa và Cao Chu Lâm đã xây dựng bảng tra của 3 họ phụ của họ Bọ lá (Chrysomelidae) với 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae với 93 loài.

5 Năm 2001, các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão đã viết cuốn “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp”. Cuốn sách nêu ra những phƣơng pháp điều tra, dự tính, dự báo khả năng phát triển thành dịch của sâu, bệnh hại rừng. Năm 2002, Cao Thị Kim Thu đã xây dựng khóa định loại loài tới bộ Cánh úp ở Việt Nam. Đặt cơ sở cho những nghiên cứu về bộ cánh úp ở nƣớc ta sau này.

Những nghiên cứu về các bộ Cánh cứng (Coleoptera), bộ Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera), bộ Cánh rộng (Megaloptera) chủ yếu thƣờng nằm trong những mục nhỏ của các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái côn trùng nhƣ: Nghiên cứu côn trùng ở VQG Tam Đảo,…. Các nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta tuy còn hạn chế nhƣng trong những năm gần đây đã đƣợc quan tâm và càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của chúng ta về các loài côn trùng ở Việt Nam.3 Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại Keo tai tƣợng Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sâu hại keo tai tƣợng tiêu biểu nhƣ nghiên cứu của Creggield, J.W và Peter tại Australia đã nêu ra có 6 loài sâu gây hại nghiêm trọng và khó khống chế. Tại nƣớc ta trong các năm từ 1992 đến 2012, Viện Điều tra quy hoạch rừng đã báo cáo tổng kết kết quả điều tra thành phần loài sâu hại rừng tại các khu vực khác nhau trong nƣớc. Theo báo cáo cho thấy có khoảng 42 loài sâu hại, 3 loại bệnh hại trên cây keo.

Trong đó gây hại nhiều nhất là 4 loài thuộc họ Ngài đêm (Noctuidae), bộ Cánh vẩy (Leopidoptera) là: Sâu nâu (Anomis fulvida Guenée), Sâu nâu vạch xám (Speiredonia retoria Linnuaeus), Sâu 4 vết đen (Hypocala sp), Sâu đen khoang (Hylodes caranea Cramer). Năm 2001, Nguyễn Thế Nhã đã xác định đƣợc 40 loài thuộc 19 họ, 6 bộ hại keo tai tƣợng và keo lá tràm. Trong đó có 30 loài sâu ăn lá, 8 loài hại rễ, 5 loài hại chồi ngọn. Các loài sâu hại chính bao gồm: Sâu nâu, sâu vạch xám, sâu kèn.

Hiện nay đã có chƣơng trình IPM để quản lý các loài sâu hại này. 6 Ngoài ra, còn có nhiều những nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học Lâm nghiệp Việt Nam, các bài báo viết trên những tạp chí khoa học danh tiếng đề cập đến các loài sâu hại keo tai tƣợng.4 Khái quát về Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management – IPM) Thuật ngữ Integrated Pest Management (IPM) đƣợc hình thành vào năm 1969 bởi Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ. IPM là sụ phối hợp giữa phòng trừ tổng hợp với quản lý dịch hại: Integrated Control + Pest Management (Thêm vào bên cạnh biện pháp hóa học và sử dụng thiên địch là các biện pháp nhƣ sử dụng giống kháng dịch, biện pháp canh tác và vật lý cơ giới). Năm 1980, FAO đƣa ra một định nghĩa về quản lý dịch hại tổng hợp, trong đó cho thấy nếu chỉ áp dụng duy nhất một biện pháp sẽ không thu đƣợc kết quả mong muốn: “IPM là một cách tiếp cận đa ngành, kết hợp việc áp dụng khôn ngoan các biện pháp hiệu quả nhất để duy trì quần thể sinh vật hại ở mức chấp nhận đƣợc.

Sự nhận biết đƣợc những vấn đề liên quan đến việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu đã thúc đẩy sự phát triển và sử dụng những kỹ thuật phòng trừ sinh vật hại khác thay cho thuốc trừ sâu. Sự quan tâm đƣợc hƣớng đến việc kết hợp sử dụng nhiều biện pháp khác nhau hơn là duy nhất một biện pháp - một cách tiếp cận đƣợc biết đến nhƣ là quản lý sinh vật hại tổng hợp. Trong ngành lâm nghiệp Việt Nam, Đào Xuân Trƣờng (1995) cho rằng: “IPM là sự lựa chọn, tổng hợp và thực hiện việc phòng trừ dâu hại trên những kết quả hoạt động về hệ sinh thái, kinh tế xã hội thông qua việc vận dụng nguyên lý sinh thái học”. Có rất nhiều khái niệm về IPM nhƣng tựu chung lại thì các khái niệm đó đều nhấn mạnh nguyên tắc: IPM phải xuất phát từ các nguyên lý sinh học, các kỹ thuật đƣợc áp dụng phải có sự hài hòa với các yếu tố mối trƣờng.

IPM không nhấn mạnh vào tiêu diệt sâu bệnh hại triệt để mà coi việc điều chỉnh chúng sao cho không vƣợt quá ngƣỡng hại kinh tế. IPM luôn phải đổi mới, linh động tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng khu vực, từng địa phƣơng. 7 CHƢƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung Cung cấp thông tin về sâu hại Keo tai tƣợng làm cơ sở để tiến hành các biện pháp phòng trừ có hiệu quả; góp phần nâng cao năng suất, chất lƣợng gỗ cây keo tai tƣợng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, cải thiện đời sống của ngƣời dân địa phƣơng.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định đƣợc thành phần các loài sâu hại và loài sâu hại chính trên cây keo tai tƣợng tại khu vực nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp quản lý sâu hại cây keo tai tượng Acacia mangium tại Tân An, Chiêm Hóa" cung cấp những phương pháp hiệu quả để kiểm soát và quản lý sâu hại trên cây keo tai tượng, một loại cây quan trọng trong ngành lâm nghiệp. Bài viết nêu rõ các biện pháp sinh học và hóa học, cũng như tầm quan trọng của việc theo dõi và đánh giá tình hình sâu hại để bảo vệ cây trồng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, đồng thời giảm thiểu thiệt hại do sâu hại gây ra.

Để mở rộng thêm kiến thức về các loại sâu hại và thiên địch, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ vnua thành phần sâu hại và thiên địch trên ngô đặc điểm sinh vật học sinh thái học loài mythimna loreyi duponchel lepidoptera noctuidae năm 2016 2017 tại sóc sơn hà nội. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố sinh học ảnh hưởng đến sự phát triển của sâu hại, từ đó áp dụng vào việc quản lý cây trồng hiệu quả hơn.