mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo chuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã đƣợc quan tâm; các giải pháp bảo tồn ĐDSH, các chƣơng trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ hƣởng lợi từ động vật hoang dã, con ngƣời và sinh quyển cũng đã đƣợc triển khai. Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và KBT đƣợc tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính phủ tại các hội nghị đã rút ra đƣợc nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng nhƣ cơ hội để các nƣớc có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn. Càng về sau, hội nghị càng chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hội nghị lần V hiệp ƣớc Durban về biến đổi khí hậu toàn cầu và kế hoạch hành động đƣợc thông qua. Ở Vƣờn quốc gia Kakadu (Australia), những ngƣời thổ dân chẳng những đƣợc chung sống với vƣờn quốc gia một cách hợp pháp mà họ còn đƣợc thừa nhận là chủ hợp pháp mà họ còn tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý.
Ở Nepan lâm nghiệp cộng đồng mới xuất hiện nổi bật là sự tham gia của ngƣời dân vào quản lý rừng. Ngày nay lâm nghiệp cộng đồng trở thảnh nguồn thu nhập và cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây. Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trƣờng và Phát triển bền vững (UNCED) ở Rio dejanerio, vấn đề này đã chính thức đƣợc công nhận (Trần Ngọc Lân, chủ biên, 1999).
Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự cần thiết phải có sự tham gia của ngƣời dân vào các hoạt động bảo tồn tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của ngƣời dân vào các hoạt động bảo tồn c 10 tài nguyên. Tuy nhiên, chƣa có những nghiên cứu định lƣợng xác định những tác động cụ thể dẫn tới những tác động đó vào tài nguyên rừng. Tình hình nghiên cứu quản lý bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Việt Nam là một trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lƣợc quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu.
của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là nơi giao giao thoa giữa các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002-Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và Phát triển kinh tế). ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái.
Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vƣợng của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ƣớc tính giá trị của tài nguyên ĐDSH toàn cầu cung cấp cho con ngƣời là 33.000 tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al- 1997). Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên ĐDSH trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nƣớc khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam-1995). Nhận thấy vai trò quan trọng của giá trị ĐDSH, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp để bảo vệ nguồn tài nguyên ĐDSH, trong đó biện pháp bảo tồn nguyên vị đƣợc thực hiện bằng cách thành lập các KBTTN, nhằm bảo vệ các loài, sinh cảnh và các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên.
Việc thành lập các khu rừng đặc dụng đã làm thay đổi đối với cuộc sống của cộng đồng dân cƣ sống ở gần rừng. Bắt đầu từ những thay đổi về chỗ ở, thói quen trong canh tác, nguồn sản phẩm sẵn có ở rừng, dẫn tới nhiều thay đổi khác về tập quán canh tác, kinh tế, văn hóa, … Ngƣời dân địa phƣơng thƣờng bị hạn chế hoặc không còn đƣợc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong đó. Các khu rừng đặc dụng thƣờng có đặc điểm chung là địa hình hiểm trở khó đi lại, là nơi sinh sống của các c 11 dân tộc ít ngƣời, đa số họ đều đang sống trong tình trạng nghèo đói, diện tích đất canh tác hẹp và ít có cơ hội tiếp cận với thị trƣờng, đời sống của họ còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên trong các khu rừng đặc dụng. Do vậy, tìm kiếm các nguồn thu nhập khác thay thế cho các thu nhập từ tài nguyên trực tiếp của KBT đã bị ngăn cấm khai thác nhằm đảm bảo và nâng cao sinh kế cho cộng đồng sống xung quanh có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc xây dựng các chiến lƣợc dài hạn cũng nhƣ các kế hoạch hành động ngắn hạn cho quản lý khu bảo tồn hiệu quả.
Hiện nay, trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về đa dạng sinh học của Việt Nam nằm trong rất nhiều bộ, ngành. Cục Bảo tồn đa dạng sinh học - Tổng cục Môi trƣờng thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý về ĐDSH ở cấp quốc gia. Cơ quan này có trách nhiệm xây dựng chính sách và pháp luật về ĐDSH; quy hoạch bảo tồn ĐDSH; bảo tồn hệ sinh thái, loài và nguồn gen; quan trắc và báo cáo về đa dạng sinh học; và là đầu mối quốc gia của nhiều công ƣớc quốc tế về ĐDSH. Một số cơ quan khác cũng có trách nhiệm quản lý nhà nƣớc về ĐDSH chuyên ngành ở cấp quốc gia trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, nhƣ Vụ Bảo tồn rừng Đặc dụng và Phòng hộ và Cục Kiểm lâm thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Vụ Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản của Tổng cục Thủy sản.
Ở cấp tỉnh có Sở Tài nguyên và Môi trƣờngvà Sở Nông nghiệp và PTNT là các cơ quan chịu trách nhiệm triển khai các chính sách và kế hoạch quốc gia về ĐDSH [2]. Hiệu quả quản lý của một KBT phụ thuộc phần lớn vào mức độ ủng hộ hay thù địch của cộng đồng địa phƣơng sống quanh KBT. Khi chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung đối với việc bảo tồn các giá trị ĐDSH trong các khu rừng đặc dụng, thì việc tồn tại những tác động bất lợi của cộng đồng dân cƣ ở vùng đệm vào nguồn tài nguyên ĐDSH nhƣ một tất yếu. Đặc biệt khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống ngƣời dân đƣợc cải thiện, thì xu hƣớng nhu cầu của con ngƣời cũng càng cao, đặc biệt đối với bộ phận những ngƣời có thu nhập cao thì càng có nhu cầu tiêu dùng các loại lâm sản quý hiếm.
Xu hƣớng tiêu dùng này đã thúc đẩy ngƣời nghèo sống ở gần rừng đẩy mạnh hoạt động khai thác trái phép các loại lâm sản quý hiếm để bán ra thị trƣờng, đã tác động xấu đến ĐDSH trong các khu rừng đặc dụng. c 12 Trƣớc thực trạng trên, trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả quản lý các khu rừng đặc dụng theo quan điểm bảo tồn - phát triển. Đó là làm sao dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phƣơng. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau mà cho đến nay,vẫn chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, đồng bộ và toàn diện về tác động của cộng đồng địa phƣơng vùng đệm tới ĐDSH trong các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam.
Phần lớn vấn đề này mới thực hiện ở mức độ nhất định, ở một hoặc một số KBTTN, VQG đơn lẻ. Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu và hoàn thiện. Tình hình quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Bát Đại Sơn 1. Công tác bảo vệ rừng Hiện nay KBTTN Bát Đại Sơn có 06 cán bộ (bao gồm cả lãnh đạo), đang quản lý 5.039,4 ha rừng và đất rừng.Trong những năm qua, Ban quản lý KBT đã phối hợp chặt chẽ với các lực lƣợng trên địa bàn huyện nhƣ: Kiểm lâm, Công an, Bộ đội biên phòng, chính quyền địa phƣơng và các hộ gia đình để thực hiện công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Kết quả là rừng đƣợc bảo vệ và phục hồi tốt hơn, những diện tích rừng trƣớc đây là nƣơng rẫy hoặc đất trống cây bụi, cây gỗ rải rác nay đã phục hồi thành rừng kín thƣờng xanh; các vụ săn bắt, bẫy thú và khai thác lâm sản trái phép đã giảm hẳn, góp phần to lớn trong công tác bảo tồnnguồn tài nguyên ĐDSH, giữ gìn cảnh quan, môi trƣờng sinh thái. Một số tồn tại trong công tác bảo vệ nguồn tài nguyên ĐDSH tại KBTTN Bát Đại Sơn: - Hiện tại, lực lƣợng cán bộ của KBT còn thiếu, khả năng cập nhật thông tin, kỹ năng tiếp cận cộng đồng của một số kiểm lâm viên còn hạn chế nên khi triển khai nhiệm vụ còn nhiều vƣớng mắc, hiệu quả chƣa cao; Trang thiết bị phục vụ cho công tác BVR, điều tra giám sát ĐDSH còn thiếu; - Việc tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng còn gặp rất nhiều khó khăn nhƣ: Các HGĐ ở xa trung tâm, phƣơng tiện tuyên truyền còn thiếu, sự hiểu biết của ngƣời dân còn hạn chế. Công tác hƣớng dẫn sử dụng đất và rừng đối với hộ nhận khoán còn chƣa đúng mức, mức hƣởng lợi từ hoạt động bảo vệ rừng c 13 còn thấp nên một số hộ nhận khoán chƣa thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của bên nhận khoán. Hình thức tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại KBT Hiện nay rừng và đất rừng đƣợc Ban quản lý KBTTN Bát Đại Sơn giao khoán quản lý bảo vệ cho các hộ gia đình tại các xã vùng đệm.
Mặc dù, thu nhập từ việc tham gia hoạt động này còn thấp song cũng đã phần nào giúp ngƣời dân địa phƣơng khẳng định đƣợc vai trò, trách nhiệm đối với công tác “giữ rừng”.