ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng ngập mặn (RNM) là một trong các hệ sinh thái đặc thù, phân bố ở vùng nƣớc mặn, nƣớc lợ và chịu tác động của thuỷ triều. RNM có phân bố ở trên 82 quốc gia. Tổng diện tích RNM trên thế giới ƣớc tính khoảng 15,7 triệu ha, trong đó diện tích RNM ở các nƣớc Đông Nam Á chiếm tới 30% tổng diện tích RNM toàn cầu (FAO, 2010) [35]. Ở Việt Nam, RNM phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông và ven biển tại 29 tỉnh ven biển thuộc các vùng Đông Bắc (Quảng Ninh), ĐB sông Hồng (Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình), Bắc Trung bộ (Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế), Nam Trung bộ (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận), Đông Nam bộ (Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, TP.
Hồ Chí Minh, Tiền Giang) và Tây Nam bộ (Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau) [12]. RNM đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cố định phù sa, lấn biển, hạn chế xói lở, ứng phó với biến đổi khí hậu. Hiện nay, hệ sinh thái RNM ở nƣớc ta có 37 loài cây ngập mặn thực thụ phân bố (Tổng quan RNM Việt Nam, 2005), trong đó RNM vùng ven biển Bắc Bộ với khí hậu có mùa hè nắng nóng, gió bão, nhất là mùa đông lạnh rét nên RNM có cấu trúc tổ thành nghèo nàn, đơn giản, mức độ đa dạng sinh học thấp, kích thƣớc cây nhỏ, sinh khối RNM thấp, hiệu quả phòng hộ chƣa cao, số loài cây ngập mặn thực thụ phân bố ít, hiện có khoảng hơn 10 loài, chủ yếu là Bần chua, Đƣớc vòi, Vẹt dù, Trang, Mắm biển, Sú. Tuy nhiên, thời gian qua các hệ sinh thái ven biển đã suy giảm nặng nề cả về diện tích lẫn chất lƣợng do nhiều nguyên nhân.
Điển hình nhƣ vùng Bắc Bộ, chỉ riêng tính đến năm 2005, các trận bão đặc biệt là bão số 7 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều tỉnh nhƣ Thái Bình, Quảng Ninh, Nam Định. Bên cạnh các yếu tố tự nhiên nhƣ gió bão, nƣớc biển dâng, xói lở bờ biển thì rừng ngập mặn còn bị suy giảm mạnh bởi các yếu tố xã hội nhƣ khai thác rừng không hợp lý, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, công tác quản lý bảo vệ rừng chƣa tốt, biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng chƣa phù hợp. Tại thời điểm năm 2013, tổng diện tích rừng ngập mặn nƣớc ta là 168.688ha, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 giảm gần 60% so với năm 1943, cấu trúc rừng cũng bị thay đổi, nhiều diện tích rừng bị suy thoái làm suy giảm chức năng phòng hộ. Về chất lƣợng, tổ thành loài đơn giản, mật độ cây rừng thấp, phần lớn các rừng mới trồng chủ yếu là rừng trồng thuần loài và tỷ lệ thành rừng không cao.
Sự suy giảm rừng ngập mặn đã làm suy giảm cấu trúc và chức năng của rừng [13]. Theo đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015-2020 (Quyết định số 120/QĐ-TTg ngày 22/1/2015) [19] thì Công tác quản lý bảo vệ rừng ngập mặn là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng nhằm phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng, cụ thể là: trong giai đoạn 2015-2020 cần phục hồi lại 9.602 ha rừng ngập mặn kém chất lƣợng và trồng 29.500 ha rừng ngập mặn. Để bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Việt Nam trong điều kiện biến đổi khí hậu, và đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra của đề án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015-2020. Đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phục hồi rừng ngập mặn tại vùng ven biển Bắc Bộ" là cần thiết góp phần xây dựng cơ sở thực tiễn để phục hồi và phát triển rừng ngập mặn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Rừng ngập mặn có vai trò vô cùng quan trọng về môi trƣờng, kinh tế và xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái. Có thể phân chia thành 4 nhóm dịch vụ, bao gồm dịch vụ cung cấp (gỗ, nguồn lợi thủy sản), dịch vụ điều tiết (bảo vệ bờ biển, hấp thụ cacbon), dịch vụ hỗ trợ (cố định phù sa, hỗ trợ sản xuất, tuần hoàn dinh dƣỡng), và dịch vụ văn hóa (các giá trị tín ngƣỡng, du lịch và giải trí). Tuy nhiên suy giảm rừng ngập mặn về cả diện tích và chất lƣợng trên thế giới hiện nay đang là vấn đề đáng báo động.
Thực trạng rừng ngập mặn trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và một số vùng khí hậu nóng ẩm trong dải vĩ độ từ 30o Bắc và 30oNam thuộc 123 quốc gia và các vùng lãnh thổ (FAO 2007) [34]. Số liệu thống kê về RNM đến nay vẫn chƣa thống nhất giữa các tài liệu nghiên cứu (Giri và cộng sự, 2011) [38]. Theo Sandilyan (2012) [48], tổng diện tích RNM khoảng 15,2 triệu ha, chiếm 0,4% tổng diện tích rừng toàn cầu và 1% tổng diện tích rừng nhiệt đới. RNM phân bố nhiều nhất ở Châu Á (42%), Châu Phi (20%), Bắc và Trung Mỹ (15%), Châu Đại Dƣơng (12%) và Nam Mỹ (11%), trong đó khoảng 75% diện tích RNM phân bố ở 15 quốc gia (Giri và cộng sự, 2010; Alongi, 2015).
RNM đƣợc bảo vệ chiếm khoảng 6,9% tổng diện tích RNM toàn cầu (Giri và cộng sự, 2011) [38]. Cũng theo Giri và cộng sự (2015) [39], từ năm 2000 đến 2012, ở khu vực Nam Á, có đến 92.135 ha rừng ngập mặn bị mất. Diện tích rừng đƣợc trồng lại ở các quốc gia Nam Á là khoảng 80.461 ha nhƣng vẫn không đủ bù cho diện tích bị mất. Cùng với suy giảm về diện tích, chất lƣợng RNM cũng có chiều hƣớng suy giảm.
Tại đồng bằng Indus, Pakistan, trong tổng số 98.014 ha RNM, chỉ có khoảng 26.555 ha là rừng giàu (độ che phủ lớn hơn 50%) và có đến 71.459 ha là rừng thƣa thớt (độ che phủ dƣới 50%). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Theo Hamilton and Casey (2016) [42] và Di Nitto cùng cộng sự (2014) [42], đã ƣớc tính tốc độ suy thoái RNM toàn cầu khoảng 0,16% đến 0,39% /năm. Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á có sự suy giảm RNM lớn nhất với tốc độ khoảng 3,58% đến 8,08%/năm. Mặc dù khu vực Đông Nam Á có hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng nhất thế giới, 2 loài Sonneratia griffithii và Bruguiera hainesii thuộc khu vực này đang nằm trong sách đỏ có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Ngoài ra các loài nhƣ Camptostemon philippinense, Heritiera globose cũng đƣợc đánh giá là loài quý hiếm đang bị đe dọa. Tại khu vực Đông Nam Á, suy giảm diện tích RNM có mối liên quan mật thiết với các hoạt động của con ngƣời (Giri và cộng sự, 2011) [38]. Nguyên nhân là do tăng diện tích nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp (Valiela và cộng sự, 2001 [51]; Giri và cộng sự, 2011) [38]. Ở quy mô vùng, có khoảng 50-80% RNM bị mất do các hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Ở quy mô quốc gia, các nguyên nhân do chuyển đổi sang đất nông nghiệp chiếm ƣu thế hơn so với chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản (Giri và cộng sự 2008) [37]. Từ năm 1975 đến năm 2005, rừng ngập mặn bị chuyển đổi sang đất nông nghiệp có tỷ lệ lớn, khoảng 50% ở Thái Lan, 43% tại Malaysia, 98% tại Myanmar; trong khi đó, khoảng 63% tổng diện tích RNM bị mất ở Indonesia là do bị chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản, 50% ở Philippines (Primavera, 1997) và 50% do mở rộng đầm tôm từ 1973-2008 tại Cà Mau, Việt Nam (Lam-Dao và cộng sự, 2011) [44]. Các nguyên nhân dẫn đến suy giảm diện tích RNM bao gồm khai thác quá mức các sản phẩm của RNM, phát triển hồ muối, phát triển các khu đô thị ven biển (Giri và cộng sự, 2008 [37]. Nhu cầu tăng lên về gỗ xẻ công nghiệp, sản xuất dăm gỗ và áp lực tăng dân số cũng là các nguyên nhân quan trọng gây ra suy giảm các hệ sinh thái RNM (Shahbudin và cộng sự, 2012).
Một trong những nguyên nhân quan trọng khác phải kể đến là việc sử dụng các chất độc hóa học trong thời kỳ chiến tranh (Lam - Dao và cộng sự, 2011) [44]. Bên cạnh các tác động từ con ngƣời, yếu tố thiên nhiên cũng gây suy giảm hệ sinh thái RNM. Các nguyên nhân chủ yếu là do xói lở bờ biển, BĐKH và nƣớc biển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nƣớc biển dâng đƣợc xem là một trong những đe dọa lớn nhất đối với RNM (Gilman và cộng sự, 2008) [40].
Theo Ellison (1999) [33] nếu mức nƣớc biển tăng tƣơng đối, diễn thế sinh thái RNM có xu hƣớng di chuyển vào nội địa để có thể duy trì thời gian thích ứng với tần số và mức độ ngập nƣớc; phía biển, cây ngập mặn có xu hƣớng dần bị suy thoái, lạch thủy triều mở rộng. Cũng theo Ellison (1999) [33], khi nghiên cứu ở Bermuda đã có nhận xét: rừng ngập mặn tiến vào đất liền không theo kịp với tốc độ tăng mực nƣớc biển, rừng ngập mặn cũng có thể phát triển (mở rộng diện tích phân bố) sang hai bên bìa rừng của các khu vực liền kề với rừng ngập mặn, nơi hiện đang ở độ cao cao hơn so với bề mặt ngập mặn hiện tại của nó, phát triển một chế độ thủy văn phù hợp. Những áp lực môi trƣờng tác động đến hệ sinh thái RNM do nƣớc biển dâng nhƣ xói lở, làm yếu cấu trúc bộ rễ cây và dần dần lật đổ cây, hoặc tăng độ mặn hoặc thay đổi thời gian và cƣờng độ ngập (Lewis, 2005) [45]. Các nghiên cứu về lập địa rừng ngập mặn Theo Choudhury (1994) [30], nhất thiết phải thực hiện đánh giá lập địa cẩn thận trƣớc khi khôi phục rừng, để xác định đất đó có cần cải tại hay không, có thể trồng rừng đƣợc không, xác định hình thức chuẩn bị đất hoặc cải tạo đất để có thể tăng khả năng thành công của công tác phục hồi rừng.
Chan và Baba (2009) cho rằng, một trong các các yếu tố quyết định đến công tác phục hồi rừng ngập mặn là lập địa trồng. Yếu tố vật lý (loại đất, kiểu sóng, độ mặn, chế độ thủy triều) cũng cần đƣợc quan tâm (dẫn theo Đinh Thanh Giang, 2015) [7]. Theo Quarto (2007) [46] chế độ thủy văn, thủy triều bao gồm các yếu tố nhƣ độ sâu ngập triều, chu kỳ, tần suất, chế độ ngập triều, địa mạo ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng phục hồi rừng ngập mặn.