Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình trồng tre lấy măng trên thế giới 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và sử dụng măng Trung Quốc là quốc gia rất giàu tiềm năng về tre, tre lấy măng ở Trung Quốc có trên 50 loài nhưng chỉ có khoảng 30 loài chính như: Phyllostachys edulis, Ph.
iridenscens, Dendrocalamus latiflorus, D. beecheynus var pubescens. Diện tích trồng tre chuyên lấy măng có khoảng 100.000 ha với năng suất bình quân từ 10 - 20 tấn/ha/năm. Năng suất măng ở một số nơi có thể lên tới 30 - 35 tấn/ha/năm.
Ngoài ra, Trung Quốc còn có khoảng trên 3 triệu hecta trồng tre để sản xuất thân tre kết hợp với thu hoạch măng [22]. Thái Lan cũng là nước sản xuất măng tre lớn trên thế giới. Với một số loài măng như Dendrocalamus asper (Pai Tong), D. Trong số đó, loài D.
asper (Mạnh tông) là chủ lực trồng để sản xuất măng. Năm 1994, giống tre Mạnh tông được trồng ở 67 trong tổng số 76 tỉnh của Thái Lan, với diện tích 424. Trong giai đoạn 1996 đến 1997, Thái Lan đã xuất khẩu măng Mạnh tông với tổng giá trị trên 1 nghìn triệu Bath [22]. Đài Loan có ít nhất 9.000 ha tre măng Bát độ và Điềm trúc.
Hằng năm, Đài Loan xuất khẩu trên 40.000 tấn măng ra thị trường thế giới [22]. Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ, Myanma, Úc và một vài nước khác cũng là những nước đã và đang đẩy mạnh việc phát triển tre lấy măng đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu [22]. Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore là những nước tiêu thụ lớn về măng tươi, măng ướp lạnh, măng muối. Sản phẩm măng hộp đã có mặt ở hầu như trên khắp thị trường thế giới.
Một tỉnh ở Thái Lan chế biến khoảng 68.000 tấn măng mỗi năm và xuất khẩu trên 40. 5 Nhật Bản đưa ra thị trường khoảng 90.000 tấn măng Moso và nhập khẩu khoảng 100.000 tấn măng từ Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc. Đài Loan hàng năm xuất sang Nhật Bản khoảng 40. Trung Quốc xuất khẩu khoảng 140.000 tấn măng Bát độ và lượng lớn măng Moso (Victor Cusack, 1997) [43].
Như vậy, sản phẩm măng tre ngày nay được rất nhiều nước trên thế giới biết đến. Nhiều quốc gia đã và đang đầu tư mạnh vào việc gây trồng, kinh doanh măng tre để tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Các nghiên cứu về nhân giống - Giâm hom cành Nghiên cứu về giâm hom tre từ cành đã được nhiều công trình đề cập đến với các kỹ thuật khác nhau và cũng đã đạt được thành công lớn trong công tác trồng rừng tre trên thế giới, đáp ứng được một phần nhu cầu về giống hiện nay. Có thể kể đến một số công trình điển hình như sau: A.
Ramanatha (2000) [31] cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp hiệu quả với hầu hết các loại tre. Nhân giống bằng giâm hom cành là một phương pháp có thể sử dụng được, có tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp tốt cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn. Phương pháp này sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang. Tác giả đã nhận định các cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn các cành nhỏ.
Các rễ khí sinh thường ít, nhỏ, nhưng trái lại ở trong đất chúng lớn hơn và mọc thành cụm. Khả năng ra rễ của các loài rất khác nhau và phụ thuộc vào kích thước của đoạn hom và độ dày của vách. Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có khả năng cấp dinh dưỡng nhiều hơn trong đoạn giâm hom. Tác giả cho rằng loài Bambusa vulgaris có thể nhân giống sinh dưỡng với quy mô lớn như sau: Hom cành 2-3 năm tuổi là nguồn cung cấp vật liệu tốt nhất.
Hom bao gồm một mắt ngủ hoặc một đốt cành, cành được cắt sát ở cổ, sau đó được cho vào túi bầu polyetylen thích hợp bao gồm đất tầng A trộn với xơ dừa vụn theo tỷ lệ 1:5. Tưới nước thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cấy hom vào túi bầu, khả năng ra chồi và ra rễ diễn ra trong khoảng thời gian từ 2-4 tuần sau đó. Nghiên cứu của Trung tâm tre trúc Trung Quốc (2008) [34] về giâm hom tre cho thấy sử dụng hom cành to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng 6 cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng 10%. Cành sử dụng giâm hom là cành của cây 01 năm tuổi, đoạn hom phải có từ 2 mắt sống trở lên, đường kính cành khoảng trên 01 cm, chiều dài cắt khoảng 30 cm và cắt vát ở phần trên với góc 45 độ, để lại 3-5 lá.
Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng sự (2000) [38] về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi. Cành cắt có độ dài 40-50 cm có từ 2 hoặc 3 đốt, hom nghiêng so với luống và lấp đất ở độ sâu 5-6 cm, để đầu trên của hom nhô lên khỏi mặt đất. Luống giâm được phủ bằng lá và tưới nước thường xuyên. Tác giả cho rằng nhân giống bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không gây tổn thương cho cây mẹ và khả năng ra măng của nó.
Thời vụ nhân giống có thể tiến hành từ tháng 2 đến tháng 9 hằng năm, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành sử dụng giâm hom có kích cỡ nhỏ nên dễ dàng tích trữ, xử lý, vận chuyển, có chi phí thấp về giá thành. Trồng cây giâm hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao. Một nghiên cứu khác của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [35] lại cho thấy thời vụ giâm hom vào mùa xuân (tháng 3-4) là tốt nhất, vì nhiệt độ và độ ẩm tăng, thuận lợi cho hom nảy chồi và măng không mọc mùa này, do đó cây giàu dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom, vì vậy cho tỷ lệ sống cao. Vào mùa thu măng đã lên cao, chất dinh dưỡng kém.
Nếu sử dụng cành trong thời gian này sẽ dễ dàng mọc mầm nhưng không ra rễ, vì vậy tỷ lệ sống rất thấp. Giâm hom bằng cành nên chọn những cành chính tròn mập, mắt khỏe từ 3 năm tuổi, đường kính lớn hơn 1 cm ở lóng cành. Khi giâm hom, hom cành được ngâm trong nước hoặc ở nơi râm mát. Sau đó ngâm vào NAA (20-100 ppm) trong 12 giờ.
Tạo rãnh sâu 30 cm, đặt hom cành cách nhau từ 15-18 cm, sau đó phủ đất và chỉ để 3 đốt có lá ở trên mặt đất. Giẫm đất xung quanh chặt vừa phải và phủ rơm, tưới nước đủ ẩm, mật độ giâm hom là 120. - Giâm hom thân Victor Cusack (1997) [43] đã nghiên cứu sử dụng hom thân để nhân giống, kết quả cho thấy tỷ lệ thành công rất khác nhau giữa các loài tre, thời gian nhân giống tốt nhất vào mùa xuân. Cây để làm hom là cây trưởng thành từ 2-3 năm tuổi, hom thân cắt từ 1,5-2 m, cắt bỏ tất cả các cành và lá, có thể để các cành dài và nhô 7 ra khỏi mặt đất, tưới nước hàng ngày trong tuần đầu, sau đó 2 lần một tuần trong khoảng 3 tuần tiếp theo và thường xuyên giữ đất ẩm ở những tuần kế tiếp.
Sau 4 tuần những cành và lá sẽ được phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ sẽ phát triển tạo thân ngầm và măng mới. Tác giả đã đưa ra 2 loại hom có thể sử dụng là hom thân 1 đốt hoặc 2 đốt. Một nghiên cứu khác của A. Ramanatha Rao (2000) [31], nghiên cứu về giâm hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loài tre có vách dày và kích thước lớn (đường kính 8-12 cm) như loài Bambusa blumeata.
Chọn cây mẹ làm hom thân 1 năm tuổi, cắt đoạn mỗi hom từ 1 hoặc 2 đốt. Hom cắm nghiêng với một góc 45 độ và độ sâu 20 cm trong môi trường ra rễ. Phần đốt được đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên. Tưới nước đủ ẩm 2 lần/ ngày, chồi mới có thể mọc sau 2-4 tuần sau đó.
Thuốc chống nấm và thuốc trừ sâu thường xuyên được sử dụng trong 6-12 tháng trước khi ra ngôi. Fu Maoyi và các cộng tác viên (2000) [38] cũng đã nghiên cứu nhân giống sử dụng các cây tre non sau khi kết thúc sinh trưởng về chiều cao, chặt phần ngọn để kích thích sự phát triển của mắt, khi mắt đã phát triển đủ lớn thì ngả cây xuống luống (rãnh) đã được chuẩn bị sẵn với độ sâu và độ rộng 10-15 cm có chứa hỗn hợp phân bón và đất. Cây ngả được phủ đất với độ dày 2-3 cm và phủ tiếp một lớp cỏ khô, thường xuyên tưới nước và giữ ẩm cho đất. Thời vụ ngả cây tốt nhất vào tháng 2-3, măng sẽ mọc vào tháng 4-5 và rễ phát triển vào tháng 7-8, cây sau 1 năm tuổi đạt chiều cao khảng 120 cm là đủ tiêu chuẩn trồng rừng.
Phương pháp này được tác giả khuyến cáo sử dụng cho các loài tre có kích thước trung bình. - Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô Nhân giống bằng phương pháp nuôi cây mô cho các loài tre cũng đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới và đã đạt được những kết quả nhất định, có thể kể đến một số kết quả nghiên cứu về nuôi cấy mô như sau: Nghiên cứu về nhân giống bằng nuôi cấy mô tại Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [33] đã giới thiệu một số loại môi trường và mô cấy thường 8 được sử dụng như sau: Phần mô cắt của mắt có chứa 1 chồi nách được đặt trong môi trường bao gồm muối khoáng cơ bản MS, vitamin bổ sung với đường mía saccarozo 88µm, 6g thạch trắng/ lít, NAA (2,7; 5,4) và BA (2,2; 4,4; 8,8; 22). Phần mô phân sinh đỉnh cắt từ măng (0,1 cm) sử dụng mô trường MS+2,4D (0,45; 2,3; 4,5) + NAA (0,54; 2,7 hoặc 5,4). Phần cụm hoa non gồm hoa mới kích thước nhỏ hơn 0,1 cm được nuôi trong tối và sáng trên môi trường MA+2,4D (11,3; 22,5).
Phần hạt non với môi trường MS+BA (0,44; 1,1; 2,2; 4,4 hoặc 8,8) + NAA (2,7 hoặc 5,4) + 2,4D (0,45; 2,3; 4,5; 9,0; 13,5 hoặc 27). Nghiên cứu tại Thái Lan về nuôi cấy mô cho hai loài tre Dendrocalamus membranaceus và D. brandisii cho thấy cây con sau 4 tháng nuôi cấy mô đã đủ tiêu chuẩn cấy ra môi trường ngoài và có khả năng sinh trưởng tốt trong vườn ươm.