Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển loài tre mai xanh dendrocalamus latiflorus lấy măng ở huyện trấn yên tỉnh yên bái

Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp phát triển loài tre mai xanh Dendrocalamus latiflorus lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tre mai xanh Dendrocalamus latiflorus

Tre mai xanh (Dendrocalamus latiflorus) là một trong những loài tre có giá trị kinh tế cao, đặc biệt trong việc cung cấp măng. Loài tre này không chỉ phát triển tốt ở điều kiện tự nhiên của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái mà còn có khả năng thích ứng với nhiều loại đất khác nhau. Măng tre mai xanh được biết đến với chất lượng cao, giàu dinh dưỡng và được ưa chuộng trong chế biến thực phẩm. Theo thống kê, sản lượng măng từ tre mai xanh đã góp phần đáng kể vào thu nhập của người dân địa phương, đồng thời tạo ra nguồn nguyên liệu cho các ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu. Việc phát triển bền vững loài tre này không chỉ giúp bảo tồn đa dạng sinh học mà còn cải thiện sinh kế cho người dân.

1.1. Tình hình trồng tre mai xanh tại Trấn Yên

Huyện Trấn Yên đã triển khai nhiều mô hình trồng tre mai xanh nhằm phát triển kinh tế nông thôn. Diện tích trồng tre mai xanh đã tăng lên đáng kể trong những năm qua, nhờ vào sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các chương trình khuyến nông. Các hộ dân đã nhận thức được giá trị kinh tế của việc trồng tre lấy măng, từ đó tích cực tham gia vào các hoạt động trồng trọt. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc duy trì và phát triển bền vững loại cây này, bao gồm việc quản lý nguồn nước, kỹ thuật chăm sóc và khai thác măng hợp lý.

II. Thực trạng phát triển tre mai xanh tại Trấn Yên

Thực trạng phát triển tre mai xanh tại huyện Trấn Yên cho thấy nhiều tiềm năng nhưng cũng không ít khó khăn. Năng suất măng hiện tại chưa đạt mức tối ưu, chủ yếu do kỹ thuật khai thác và chế biến chưa đồng bộ. Việc khai thác măng chủ yếu diễn ra vào mùa vụ, dẫn đến tình trạng khai thác không bền vững. Hơn nữa, thị trường tiêu thụ măng còn hạn chế, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất và doanh nghiệp chế biến. Để nâng cao hiệu quả kinh tế từ tre mai xanh, cần có các giải pháp đồng bộ từ khâu trồng trọt, khai thác đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

2.1. Kỹ thuật trồng và khai thác măng

Kỹ thuật trồng tre mai xanh hiện nay đã được cải tiến, tuy nhiên vẫn cần nâng cao hơn nữa để đạt được năng suất cao. Việc áp dụng các công nghệ mới trong trồng trọt như sử dụng giống tốt, bón phân hợp lý và chăm sóc đúng cách sẽ giúp tăng năng suất măng. Khai thác măng cũng cần được thực hiện theo quy trình khoa học, tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn đến suy giảm nguồn tài nguyên. Các mô hình trồng tre mai xanh cần được nghiên cứu và phát triển để tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao giá trị kinh tế cho người dân.

III. Đề xuất giải pháp phát triển tre mai xanh

Để phát triển bền vững loài tre mai xanh tại huyện Trấn Yên, cần có các giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về giá trị kinh tế của tre mai xanh. Thứ hai, chính quyền địa phương cần hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho các hộ dân tham gia trồng tre. Thứ ba, cần xây dựng các mô hình liên kết giữa người sản xuất và doanh nghiệp chế biến để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm măng. Cuối cùng, việc bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học cũng cần được chú trọng để duy trì nguồn tài nguyên thiên nhiên.

3.1. Tăng cường liên kết giữa các bên

Liên kết giữa người trồng tre, doanh nghiệp chế biến và các cơ quan chức năng là rất quan trọng trong việc phát triển bền vững tre mai xanh. Các doanh nghiệp cần cam kết thu mua sản phẩm với giá hợp lý, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho người dân trong quá trình trồng và khai thác. Chính quyền địa phương cũng cần tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động này, từ đó hình thành chuỗi giá trị bền vững cho sản phẩm măng tre mai xanh.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển loài tre mai xanh dendrocalamus latiflorus lấy măng ở huyện trấn yên tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình trồng tre lấy măng trên thế giới 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và sử dụng măng Trung Quốc là quốc gia rất giàu tiềm năng về tre, tre lấy măng ở Trung Quốc có trên 50 loài nhưng chỉ có khoảng 30 loài chính như: Phyllostachys edulis, Ph.

iridenscens, Dendrocalamus latiflorus, D. beecheynus var pubescens. Diện tích trồng tre chuyên lấy măng có khoảng 100.000 ha với năng suất bình quân từ 10 - 20 tấn/ha/năm. Năng suất măng ở một số nơi có thể lên tới 30 - 35 tấn/ha/năm.

Ngoài ra, Trung Quốc còn có khoảng trên 3 triệu hecta trồng tre để sản xuất thân tre kết hợp với thu hoạch măng [22]. Thái Lan cũng là nước sản xuất măng tre lớn trên thế giới. Với một số loài măng như Dendrocalamus asper (Pai Tong), D. Trong số đó, loài D.

asper (Mạnh tông) là chủ lực trồng để sản xuất măng. Năm 1994, giống tre Mạnh tông được trồng ở 67 trong tổng số 76 tỉnh của Thái Lan, với diện tích 424. Trong giai đoạn 1996 đến 1997, Thái Lan đã xuất khẩu măng Mạnh tông với tổng giá trị trên 1 nghìn triệu Bath [22]. Đài Loan có ít nhất 9.000 ha tre măng Bát độ và Điềm trúc.

Hằng năm, Đài Loan xuất khẩu trên 40.000 tấn măng ra thị trường thế giới [22]. Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ, Myanma, Úc và một vài nước khác cũng là những nước đã và đang đẩy mạnh việc phát triển tre lấy măng đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu [22]. Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore là những nước tiêu thụ lớn về măng tươi, măng ướp lạnh, măng muối. Sản phẩm măng hộp đã có mặt ở hầu như trên khắp thị trường thế giới.

Một tỉnh ở Thái Lan chế biến khoảng 68.000 tấn măng mỗi năm và xuất khẩu trên 40. 5 Nhật Bản đưa ra thị trường khoảng 90.000 tấn măng Moso và nhập khẩu khoảng 100.000 tấn măng từ Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc. Đài Loan hàng năm xuất sang Nhật Bản khoảng 40. Trung Quốc xuất khẩu khoảng 140.000 tấn măng Bát độ và lượng lớn măng Moso (Victor Cusack, 1997) [43].

Như vậy, sản phẩm măng tre ngày nay được rất nhiều nước trên thế giới biết đến. Nhiều quốc gia đã và đang đầu tư mạnh vào việc gây trồng, kinh doanh măng tre để tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Các nghiên cứu về nhân giống - Giâm hom cành Nghiên cứu về giâm hom tre từ cành đã được nhiều công trình đề cập đến với các kỹ thuật khác nhau và cũng đã đạt được thành công lớn trong công tác trồng rừng tre trên thế giới, đáp ứng được một phần nhu cầu về giống hiện nay. Có thể kể đến một số công trình điển hình như sau: A.

Ramanatha (2000) [31] cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp hiệu quả với hầu hết các loại tre. Nhân giống bằng giâm hom cành là một phương pháp có thể sử dụng được, có tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp tốt cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn. Phương pháp này sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang. Tác giả đã nhận định các cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn các cành nhỏ.

Các rễ khí sinh thường ít, nhỏ, nhưng trái lại ở trong đất chúng lớn hơn và mọc thành cụm. Khả năng ra rễ của các loài rất khác nhau và phụ thuộc vào kích thước của đoạn hom và độ dày của vách. Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có khả năng cấp dinh dưỡng nhiều hơn trong đoạn giâm hom. Tác giả cho rằng loài Bambusa vulgaris có thể nhân giống sinh dưỡng với quy mô lớn như sau: Hom cành 2-3 năm tuổi là nguồn cung cấp vật liệu tốt nhất.

Hom bao gồm một mắt ngủ hoặc một đốt cành, cành được cắt sát ở cổ, sau đó được cho vào túi bầu polyetylen thích hợp bao gồm đất tầng A trộn với xơ dừa vụn theo tỷ lệ 1:5. Tưới nước thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cấy hom vào túi bầu, khả năng ra chồi và ra rễ diễn ra trong khoảng thời gian từ 2-4 tuần sau đó. Nghiên cứu của Trung tâm tre trúc Trung Quốc (2008) [34] về giâm hom tre cho thấy sử dụng hom cành to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng 6 cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng 10%. Cành sử dụng giâm hom là cành của cây 01 năm tuổi, đoạn hom phải có từ 2 mắt sống trở lên, đường kính cành khoảng trên 01 cm, chiều dài cắt khoảng 30 cm và cắt vát ở phần trên với góc 45 độ, để lại 3-5 lá.

Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng sự (2000) [38] về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi. Cành cắt có độ dài 40-50 cm có từ 2 hoặc 3 đốt, hom nghiêng so với luống và lấp đất ở độ sâu 5-6 cm, để đầu trên của hom nhô lên khỏi mặt đất. Luống giâm được phủ bằng lá và tưới nước thường xuyên. Tác giả cho rằng nhân giống bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không gây tổn thương cho cây mẹ và khả năng ra măng của nó.

Thời vụ nhân giống có thể tiến hành từ tháng 2 đến tháng 9 hằng năm, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành sử dụng giâm hom có kích cỡ nhỏ nên dễ dàng tích trữ, xử lý, vận chuyển, có chi phí thấp về giá thành. Trồng cây giâm hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao. Một nghiên cứu khác của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [35] lại cho thấy thời vụ giâm hom vào mùa xuân (tháng 3-4) là tốt nhất, vì nhiệt độ và độ ẩm tăng, thuận lợi cho hom nảy chồi và măng không mọc mùa này, do đó cây giàu dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom, vì vậy cho tỷ lệ sống cao. Vào mùa thu măng đã lên cao, chất dinh dưỡng kém.

Nếu sử dụng cành trong thời gian này sẽ dễ dàng mọc mầm nhưng không ra rễ, vì vậy tỷ lệ sống rất thấp. Giâm hom bằng cành nên chọn những cành chính tròn mập, mắt khỏe từ 3 năm tuổi, đường kính lớn hơn 1 cm ở lóng cành. Khi giâm hom, hom cành được ngâm trong nước hoặc ở nơi râm mát. Sau đó ngâm vào NAA (20-100 ppm) trong 12 giờ.

Tạo rãnh sâu 30 cm, đặt hom cành cách nhau từ 15-18 cm, sau đó phủ đất và chỉ để 3 đốt có lá ở trên mặt đất. Giẫm đất xung quanh chặt vừa phải và phủ rơm, tưới nước đủ ẩm, mật độ giâm hom là 120. - Giâm hom thân Victor Cusack (1997) [43] đã nghiên cứu sử dụng hom thân để nhân giống, kết quả cho thấy tỷ lệ thành công rất khác nhau giữa các loài tre, thời gian nhân giống tốt nhất vào mùa xuân. Cây để làm hom là cây trưởng thành từ 2-3 năm tuổi, hom thân cắt từ 1,5-2 m, cắt bỏ tất cả các cành và lá, có thể để các cành dài và nhô 7 ra khỏi mặt đất, tưới nước hàng ngày trong tuần đầu, sau đó 2 lần một tuần trong khoảng 3 tuần tiếp theo và thường xuyên giữ đất ẩm ở những tuần kế tiếp.

Sau 4 tuần những cành và lá sẽ được phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ sẽ phát triển tạo thân ngầm và măng mới. Tác giả đã đưa ra 2 loại hom có thể sử dụng là hom thân 1 đốt hoặc 2 đốt. Một nghiên cứu khác của A. Ramanatha Rao (2000) [31], nghiên cứu về giâm hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loài tre có vách dày và kích thước lớn (đường kính 8-12 cm) như loài Bambusa blumeata.

Chọn cây mẹ làm hom thân 1 năm tuổi, cắt đoạn mỗi hom từ 1 hoặc 2 đốt. Hom cắm nghiêng với một góc 45 độ và độ sâu 20 cm trong môi trường ra rễ. Phần đốt được đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên. Tưới nước đủ ẩm 2 lần/ ngày, chồi mới có thể mọc sau 2-4 tuần sau đó.

Thuốc chống nấm và thuốc trừ sâu thường xuyên được sử dụng trong 6-12 tháng trước khi ra ngôi. Fu Maoyi và các cộng tác viên (2000) [38] cũng đã nghiên cứu nhân giống sử dụng các cây tre non sau khi kết thúc sinh trưởng về chiều cao, chặt phần ngọn để kích thích sự phát triển của mắt, khi mắt đã phát triển đủ lớn thì ngả cây xuống luống (rãnh) đã được chuẩn bị sẵn với độ sâu và độ rộng 10-15 cm có chứa hỗn hợp phân bón và đất. Cây ngả được phủ đất với độ dày 2-3 cm và phủ tiếp một lớp cỏ khô, thường xuyên tưới nước và giữ ẩm cho đất. Thời vụ ngả cây tốt nhất vào tháng 2-3, măng sẽ mọc vào tháng 4-5 và rễ phát triển vào tháng 7-8, cây sau 1 năm tuổi đạt chiều cao khảng 120 cm là đủ tiêu chuẩn trồng rừng.

Phương pháp này được tác giả khuyến cáo sử dụng cho các loài tre có kích thước trung bình. - Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô Nhân giống bằng phương pháp nuôi cây mô cho các loài tre cũng đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới và đã đạt được những kết quả nhất định, có thể kể đến một số kết quả nghiên cứu về nuôi cấy mô như sau: Nghiên cứu về nhân giống bằng nuôi cấy mô tại Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [33] đã giới thiệu một số loại môi trường và mô cấy thường 8 được sử dụng như sau: Phần mô cắt của mắt có chứa 1 chồi nách được đặt trong môi trường bao gồm muối khoáng cơ bản MS, vitamin bổ sung với đường mía saccarozo 88µm, 6g thạch trắng/ lít, NAA (2,7; 5,4) và BA (2,2; 4,4; 8,8; 22). Phần mô phân sinh đỉnh cắt từ măng (0,1 cm) sử dụng mô trường MS+2,4D (0,45; 2,3; 4,5) + NAA (0,54; 2,7 hoặc 5,4). Phần cụm hoa non gồm hoa mới kích thước nhỏ hơn 0,1 cm được nuôi trong tối và sáng trên môi trường MA+2,4D (11,3; 22,5).

Phần hạt non với môi trường MS+BA (0,44; 1,1; 2,2; 4,4 hoặc 8,8) + NAA (2,7 hoặc 5,4) + 2,4D (0,45; 2,3; 4,5; 9,0; 13,5 hoặc 27). Nghiên cứu tại Thái Lan về nuôi cấy mô cho hai loài tre Dendrocalamus membranaceus và D. brandisii cho thấy cây con sau 4 tháng nuôi cấy mô đã đủ tiêu chuẩn cấy ra môi trường ngoài và có khả năng sinh trưởng tốt trong vườn ươm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp phát triển tre mai xanh Dendrocalamus latiflorus lấy măng tại Trấn Yên, Yên Bái" tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển bền vững cây tre mai xanh, đặc biệt là khai thác măng. Tài liệu cung cấp thông tin chi tiết về quy trình canh tác, chăm sóc, và thu hoạch măng, đồng thời phân tích hiệu quả kinh tế và môi trường của mô hình này. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho nông dân, nhà nghiên cứu, và các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nghiên cứu về các giải pháp canh tác hồ tiêu bền vững. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk cung cấp thêm góc nhìn về kỹ thuật bón phân hiệu quả. Cuối cùng, Luận án ts quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi phía bắc là tài liệu tham khảo về sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn chất lượng cao.