CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG 1. Tổng quan về chiến lược 1. Khái niệm chiến lược Thuật ngữ “chiến lược” được coi như một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi của một cuộc chiến tranh. Xuất phát từ thuật ngữ dùng trong quân sự, “chiến lược” đã dần được sử dụng phổ biến trong kinh doanh.
Các doanh nghiệp phải cố gắng sử dụng những điểm mạnh của mình để khai thác những điểm yếu của đối thủ. Sự thành công trong kinh doanh không phải là kết quả ngẫu nhiên tình cờ mà nó là kết quả của sự chú tâm liên tục đến những điều kiện thay đổi bên trong và bên ngoài, đến việc hình thành, thực thi những thích nghi sáng suốt với những điều kiện đó. Yếu tố bất ngờ mang lại nhiều lợi thế cạnh tranh lớn lao trong các chiến lược kinh doanh. Các hệ thống thông tin cung cấp dữ liệu về các đối thủ hay các chiến lược và nguồn lực của đối thủ cạnh tranh cũng vô cùng quan trọng.
Thuật ngữ “chiến lược” thường được dùng theo 3 nghĩa phổ biến. Thứ nhất là, các chương trình hoạt động tổng quát và triển khai các nguồn lực chủ yếu để đạt được mục tiêu. Thứ hai là, các chương trình mục tiêu của tổ chức, các nguồn lực cần sử dụng để đạt được mục tiêu này, các chính sách điều hành việc thu nhập, sử dụng và bố trí các nguồn lực này. Thứ ba là, xác định các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các đường lối hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu này.
Sự xuất hiện khái niệm chiến lược phát triển thị trường không chỉ đơn thuần là vay mượn khái niệm mà bắt nguồn từ sự cần thiết phản ánh thực tiễn khách quan của quản lý doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Do có cách tiếp cận khác nhau về chiến lược mà các quan niệm về chiến lược được đưa ra cũng khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung, thống nhất về khái niệm này. Có thể nêu một số quan niệm phổ biến như sau: 6 Năm 1962, Chandler - một trong những nhà khởi xướng và phát triển các lý thuyết về quản lý chiến lược - định nghĩa: “Chiến lược là yếu tố quyết định mục tiêu dài hạn của tổ chức và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này” (Prof. Chandler,1962); “Chiến lược là nghệ thuật tạo lập các lợi thế cạnh tranh” (M.Porter, 1980) “Chiến lược là nhằm phác hoạ những quỹ đạo tiến triển đủ vững chắc và lâu dài, xung quanh quỹ đạo đó có thể sắp đặt những quyết định và những hành động chính xác của doanh nghiệp” (Alain Charles Martinet, 1983).
“Chiến lược được định ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát dẫn dắt hoặc hướng doanh nghiệp đi đến mục tiêu mong muốn. Kế hoạch tác nghiệp tổng quát này tạo cơ sở cho các chính sách (định hướng cho việc thông qua quyết định) và các thủ pháp tác nghiệp” (Nhóm tác giả Garry D. Như vậy có thể thấy rằng, có rất nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược, mỗi khái niệm bao gồm các khía cạnh khác nhau và tuỳ theo cấp độ. Theo quan điểm của tác giả, để hiểu rõ và chung nhất, bao hàm các nội dung thì có thể hiểu: Chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp là đường lối hoạt động và kế hoạch tổ chức phối hợp các nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với biến động của thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn trong kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, theo định nghĩa này thì điểm đầu tiên của chiến lược phát triển thị trường có liên quan tới các mục tiêu của doanh nghiệp. Đó chính là điều mà các nhà quản trị thực sự quan tâm. Có điều những chiến lược phát triển thị trường khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào chủng loại, đặc điểm, thời kỳ kinh doanh từng sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định, xây dựng và quyết định chiến lược thị trường, định hướng mục tiêu là chưa đủ mà nó đòi hỏi mỗi chiến lược cần đưa ra những hành động, hướng mục tiêu cụ thể, tức là cách thức làm thế nào để đạt được mục tiêu đó.
Phân loại chiến lược Để thành công, công ty cần xác định chiến lược kinh doanh và theo đuổi nó trong những thời gian nhất định. Lý luận về kinh tế thị trường phân loại chiến lược theo nhiều cách. Theo đó, có thể tồn tại những chiến lược sau: 7 * Căn cứ theo phạm vi, chiến lược được chia thành 2 loại: + Chiến lược chung (hay chiến lược tổng quát): đề cập những vấn đề quan trọng nhất bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài. Chiến lược này quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
+ Chiến lược bộ phận: Là loại chiến lược cấp hai. Thông thường trong doanh nghiệp, loại này bao gồm chiến lược sản phẩm, giá cả và phân phối, xúc tiến bán hàng. Hai loại chiến lược trên liên kết chặt chẽ với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh của doanh nghiệp, vì chúng bổ sung cho nhau để giải quyết các mục tiêu quan trọng, sống còn của doanh nghiệp. * Căn cứ theo nội dung của chiến lược: + Chiến lược thương mại + Chiến lược tài chính + Chiến lược công nghệ và kỹ thuật + Chiến lược con người * Căn cứ theo bản chất của từng chiến lược: + Chiến lược sản phẩm + Chiến lược thị trường + Chiến lược cạnh tranh + Chiến lược đầu tư * Căn cứ theo quy trình chiến lược: + Chiến lược định hướng: Đề cập đến những định hướng biện pháp để đạt được các mục tiêu đó.
Đây là phương án chiến lược cơ bản của doanh nghiệp. + Chiến lược hành động: là các phương án hành động của doanh nghiệp trong từng tình huống cụ thể và các dự kiến điều chỉnh chiến lược. Chiến lược kinh doanh Có nhiều mô hình và phương pháp để hoạch định và quản trị chiến lược. Mặc dù không có những quy luật tuyệt đối cho một mô hình phù hợp nhất, hầu hết các mô hình đều đi theo những khuôn mẫu tương tự nhau và có những đặc tính chung.
Chu trình các bước của các mô hình tuy khác nhau nhưng đều dựa trên các giai đoạn căn bản như sau: 8 Bước 1: Bước 2: Bước 3: Bước 4: Xác định hệ Phân tích Phân tích Hình thống mục tiêu môi trường nội bộ thành của doanh kinh doanh doanh chiến nghiệp nghiệp lược Sơ đồ 1.1: Mô hình hoạch định chiến lược kinh doanh [Fred R. Xác định mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu của chiến lược là kết quả cụ thể của doanh nghiệp cần đạt được khi thực hiện chiến lược. Thông thường các doanh nghiệp chia mục tiêu thành hai loại: mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn. Phân loại mục tiêu Phân loại mục tiêu theo tiêu chí sau: - Theo thời gian + Mục tiêu dài hạn thường là từ 5 năm trở lên và tùy theo loại hình doanh nghiệp mà có khoảng thời gian cho mục tiêu dài hạn khác nhau.
Mục tiêu dài hạn (mục tiêu trên 1 năm): là kết quả mong muốn được đề ra cho một khoảng thời gian tương đối dài, thường là các lĩnh vực: Mức lợi nhuận và khả năng sinh lợi, năng suất, phát triển việc làm, quan hệ giữa công nhân viên, vị trí dẫn đầu về công nghệ, trách nhiệm trước công chúng. + Mục tiêu ngắn hạn hay còn gọi là mục tiêu tác nghiệp có thời gian từ 1 năm trở xuống. Mục tiêu ngắn hạn phải hết sức cụ thể và nêu ra được các kết quả một cách chi tiết. + Mục tiêu trung hạn loại trung gian gữa hai loại trên.
Theo bản chất của mục tiêu + Mục tiêu về kinh tế: lợi nhuận, doanh thu, thị phần, tốc độ phát triển,… + Mục tiêu xã hội: giải quyết việc làm, tham gia vào các hoạt động từ thiện + Mục tiêu chính trị: quan hệ tốt với chính quyền, vận động hành lang nhằm thay đổi chính sách và quy định có lợi cho công ty. 9 Theo cấp độ của mục tiêu + Mục tiêu cấp công ty: Đó thường là các mục tiêu dài hạn mang tính định hướng cho các cấp bận mục tiêu khác. + Mục tiêu cấp đơn vị kinh doanh: được gắn với từng đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) hoặc từng loại sản phẩm, từng loại khách hàng. + Mục tiêu cấp chức năng: đó là mục tiêu cho các đơn vị chức năng trong công ty như sản xuất, marketing, tài chính, nghiên cứu và phát triển… nhằm hướng vào thực hiện các mục tiêu chung của công ty.
+ Mục tiêu duy trì và ổn định: khi công ty đã đạt được tốc độ phát triển nhanh trước đó hoặc do thị trường có khó khăn, công ty có thể đăt ra mục tiêu và giữ vững những thành quả đã được. Các yêu cầu đối với mục tiêu - Tính nhất quán: đòi hỏi các mục tiêu này không làm cản trở việc thực hiện các mục tiêu khác. Đây là yêu cầu đầu tiên, đóng vai trò quan trọng để đảm bảo rằng hệ thống mục tiêu phải được thực hiện và phải hướng vào hoàn thành các mục tiêu tổng quát của từng thời kỳ chiến lược. - Tính cụ thể: xét trên phương diện lý luận, khoảng thời gian càng dài bao nhiêu thì hệ thống mục tiêu càng giảm bấy nhiêu.
Tuy nhiên, yêu cầu về tính cụ thể của hệ thống mục tiêu không đề cập đến tính dài ngắn của thời gian mà yêu cầu mục tiêu chiến lược phải đảm bảo tính cụ thể. Muốn vậy, khi xác định mục tiêu chiến lược cần chỉ rõ: Mục tiêu liên quan đến vấn đề gì? Giới hạn thời gian thực hiện? Kết quả cụ thể cuối cùng cần đạt. - Tính khả thi: mục tiêu chiến lược là mục tiêu doanh nghiệp xác định trong thời kỳ chiến lược xác định. Do đó các mục tiêu này đòi hỏi người có trách nhiệm một sự cố gắng trong việc thực hiện nhưng lại không quá cao mà phải sát thực và có thể đạt được.
Có như vậy hệ thống mục tiêu mới có tác dụng khuyến khích nỗ lực vươn lên của mọi bộ phận trong doanh nghiệp và cũng không quá cao đến mức làm nản lòng người thực hiện. - Tính linh hoạt: môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi nên đòi hỏi hệ thống mục tiêu phải linh hoạt để điều chỉnh khi môi trường kinh doanh thay đổi. Tính 10 linh hoạt là điều kiện đảm bảo để biến các mục tiêu chiến lược thành hiện thực. Đây là đặc trưng quan trọng của chiến lược so với kế hoạch.