phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về Chứng khoán phái sinh và thị trƣờng chứng khoán phái sinh. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển hoạt động đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán phái sinh tại Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán phái sinh Việt Nam, giai đoạn 2020 - 2025. Đóng góp của Đề tài Đề tài khái quát các lý luận về CKPS và các giao dịch trên thị trƣờng CKPS, đồng thời phân tích thực trạng phát triển hoạt động đầu tƣ trên thị trƣờng CKPS Việt Nam.
Qua phân tích rút ra những vấn đề còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ảnh hƣởng đến hoạt động đầu tƣ trên thị trƣờng CKPS Việt Nam hiện nay. Từ đó, tác giả đƣa ra các giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tế để phát triển hoạt động đầu 6 tƣ trên thị trƣờng CKPS Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp một phần quan trọng vào việc phát triển thị trƣờng CKPS Việt Nam trong, giai đoạn 2020 – 2025. Tổng quan các công trình nghiên cứu trƣớc 8.1 Nghiên cứu nƣớc ngoài Ernst Juerg Weber (2008) “A Short History of Derivative Security Markets”.
Tác giả đã đƣa ra những dẫn chứng lịch sử của TTCKPS cổ đại với HĐTL của hàng hóa tại vùng Lƣỡng Hà; Hy Lạp cổ đại; Ai Cập và thế giới La Mã. Mặc dù đế chế La Mã sụp đổ nhƣng HĐTL tiếp tục đƣợc sử dụng trong Đế quốc Byzantine ở phía đông Địa Trung Hải. HĐTL đƣợc sử dụng phổ biến tại nhiều đế quốc cổ đại và tới thế kỷ XVII- XVIII HĐTL đƣợc sử dụng tại Anh, Pháp và sang thế kỷ XIX Đức. Trong thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia tƣ bản sử dụng HĐTL trong đời sống kinh tế của mình.
Có thể nói, đây là cuốn sách quan trọng giúp cho ngƣời đọc có cái nhìn chính xác về quá trình ra đời và phát triển của công cụ phái sinh cũng nhƣ TTCKPS trên thế giới. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả chỉ đề cập đến lịch sử ra đời của thị trƣờng phái sinh hàng hoá mà chƣa đề cập đến TTCKPS. Lyroudi (2007) “The effects of derivatives trading on stock market volatility: the case of the Athens stock exchange”. Một trong những vấn đề quan trọng nhất làm đau đầu các nhà quản lý tài chính và các viện sĩ ngành Tài chính trên toàn thế giới là thị trƣờng tài chính biến động và nhu cầu dự báo nó chính xác.
Thông qua các nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các nhân tố ảnh hƣởng đến giá cả các HĐTL hay nói cách khác là các nhân tố ảnh hƣởng tới giá của CKPS. Đây là một nghiên cứu quan trọng, xuất phát từ thực tiễn và có tĩnh thực tiễn cao; tuy nhiên việc nghiên cứu tại một SGDCK phát triển nhƣ Athens là chƣa có nhiều nét tƣơng đồng với TTCKPS Việt Nam hiện còn sơ khai. Keith Sill (1997) “The Economic Benefits and Risks Of Derivative Securities” Business Review, Federal Reserve Bank of Philadelphia, January/February 1997. Kết quả nghiên cứu của tác giả dựa vào việc nghiên cứu sự phát triển phi thƣờng 7 của TTCKPS ở một số quốc gia phát triển trong giai đoạn 1987-1997.
Bên cạnh những thành tựu mà TTCKPS mang lại thì nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chiến lƣợc bảo hiểm danh mục đầu tƣ trong một số trƣờng hợp lại gây tốn kém chi phí và thiệt hại lớn cho nhà đầu tƣ. Nghiên cứu của tác giả phản ánh một góc nhìn khác về CKPS: không phải lúc nào CKPS cũng mang lại những điều tích cực cho nền kinh tế. Đây là một góc nhìn mới dựa trên sự quan sát của tác giả tại các thị trƣờng phát triển, tuy nhiên đề tài chƣa đề cập đến sự phát triển và các giải pháp phát triển cho TTCKPS.2 Nghiên cứu trong nƣớc Trần Cao Nguyên (2004) “Cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam”. Tác giả đã trình bày sự cần thiết lợi ích của TTCK phái sinh Việt Nam và các điều kiện phát triển và khuyến nghị phát triển TTCK phái sinh Việt Nam, nhƣng các giải pháp đƣa ra nhìn chung còn mang tính lý thuyết, định hƣớng về chính sách, công cụ, chƣa đi sâu vào các vấn đề xây dựng, tổ chức cơ cấu, bộ máy vận hành của thị trƣờng CKPS.
- Phòng Phân tích và Dự báo thị trƣờng, Trung tâm NCKH-ĐTCK, UBCKNN (2011) “Khảo sát nhanh các loại hình chứng khoán phái sinh và sản phẩm giao dịch mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Báo cáo đã so sánh thông lệ quốc tế về các sản phẩm CKPS mới xuất hiện trên thị trƣờng nhƣ: HĐQC, HĐTL, HĐKH. Thông qua quá trình thông kê, phân tích số liệu, báo cáo đã đánh giá sự hình thành và phát triển của TTCK phải sinh là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế. Với sự biến động của nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng, sự xuất hiện của các công cụ CKPS nhằm đảm bảo chuyển đổi rủi ro giữa các chủ thể tham gia thị trƣờng, giảm thiểu sự bất ổn của thị trƣờng về dài hạn.
Thông qua quá trình khảo sát, báo cáo đã chỉ ra yêu cầu của các nhà đầu tƣ đối với sự xuất hiện của TTCKPS. Mặc dù vậy, do chƣa có hệ thống khung pháp lý cụ thể để hƣớng dẫn thị trƣờng, do đó các hoạt động giao dịch loại sản phẩm này vẫn đang diễn ra tự phát, chứa đựng nhiều rủi ro do không có sự quản lý và sự bảo vệ quyền lợi của các cơ quan chức năng đối với các nhà đầu tƣ. Do đó, báo cáo đã kiến nghị các cơ quan chức năng, 8 đặc biệt là Bộ Tài chính và UBCKNN cần xây dựng cơ chế phù hợp, nhằm đƣa các công cụ phái sinh đi vào hoạt động thử nghiệm dựa trên các tài sản cơ sở sẵn có trên thị trƣờng. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý cần tuyên truyền, đào tạo, nâng cao kiến thức cho các chủ thể tham gia thị trƣờng, nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tƣ cũng nhƣ sự phát triển ổn định của TTCKPS.
- Võ Thị Phƣơng (2016) “Phát triển thị trường chứng khoán phái sinh: Kinh nghiệm từ các nước châu Á”. Bài báo đã nghiên cứu sự hình thành và phát triển của TTCKPS ở các quốc gia trong khu vực châu Á nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Dựa vào những số liệu thu thập đƣợc, tác giả đã nghiên cứu, đánh giá cao sự tăng trƣởng mạnh mẽ của TTCKPS châu Á, với việc vƣợt qua châu Âu, vƣơn lên là thị trƣờng lớn thứ hai trên thế giới, sau khu vực Bắc Âu. Thông qua các bài học kinh nghiệm trong việc phát triển thành công TTCKPS ở các quốc gia nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp mang tính định hƣớng, tạo tiền đề cho việc xây dựng và vận hành thị trƣờng CKPS ở Việt Nam nhƣ: hoàn thiện hệ thống khung pháp lý, phát triển thị trƣờng CKPS phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đào tạo, nâng cao năng lực và chuyên môn cho các chủ thể tham gia thị trƣờng và xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá thị trƣờng đáng tin cậy, đƣợc sử dụng làm cơ sở tham chiếu trong các giao dịch trên thị trƣờng.
- Tạ Thanh Bình (2017) “Thị trường chứng khoán phái sinh và lộ trình phát triển các sản phẩm”. Bài báo đã dẫn chứng chủ trƣơng xây dựng sản phẩm TTCKPS, nghiên cứu các sản phẩm đặc thù của thị trƣờng chứng khoán phái sinh: nguyên tắc thiết kế, mẫu hợp đồng,.Theo lộ trình phát triển của TTCKPS đƣợc phê duyệt tại Quyết định 366/QĐ-TTg, sau năm 2020 và về dài hạn các công cụ tài chính phái sinh là HĐTL và HĐQC dựa trên tài sản cơ sở là cổ phiếu, trái phiếu, HĐTL tiền tệ và hàng hóa sẽ đƣợc tập trung giao dịch thống nhất trên SGDCK. Với lộ trình xây dựng và phát triển từng bƣớc các sản phẩm trên TTCKPS phù hợp với nhu cầu và quy mô của TTCK Việt Nam, kết hợp với sự nỗ lực cố gắng của cơ quan quản lý, SGDCK, VSD và các thành viên tham gia thị trƣờng trong công tác xây 9 dựng hàng hóa, những sản phẩm phái sinh đƣợc lựa chọn sẽ góp phần tạo nên sự thành công của TTCKPS Việt Nam. Hoàng Anh Tuấn (2017) “Chứng khoán phái sinh - Lực đẩy mới cho thị trường chứng khoán Việt Nam”.
Bài báo đã dẫn chứng cơ sở hành lang pháp lý phát triển thị trƣờng chứng khoán phái sinh Việt Nam: Luật Chứng khoán đã quy định về khái niệm chứng khoán phái sinh, góp phần tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho chứng khoán phái sinh, Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 5/5/2015 về chứng khoán phái sinh và TTCKPS và Thông tƣ số 11/2016/TT-BTC ngày 19/1/2016 hƣớng dẫn Nghị định số 42/2015/NĐ-CP đã đƣợc ban hành tạo hành lang pháp lý quan trọng để quản lý và vận hành thị trƣờng phái sinh. Quyết định số 366/2014/QĐ-TTg do Thủ tƣớng chính phủ ban hành ngày 11/3/2014 về phê duyệt Đề án “Xây dựng và phát triển TTCKPS tại Việt Nam” với quan điểm xây dựng TTCKPS theo mô hình tập trung, hoạt động thống nhất dƣới sự quản lý của Nhà nƣớc, hạn chế sự hình thành và hoạt động một cách tự phát của TTCKPS tự do. Đồng thời, tác giả đƣa ra một số định hƣớng thúc đẩy phát triển TTCKPS Việt Nam, hỗ trợ sự phát triển bền vững các thị trƣờng chứng khoán cơ sở nhƣ thị trƣờng cổ phiếu, thị trƣờng trái phiếu, đƣa TTCK trở thành kênh huy động vốn an toàn, dài hạn cho nền kinh tế. Tạp chí Tài chính tháng 08/2020 “ Thị trường chứng khoán phái sinh:Vượt trên cả kỳ vọng”.
TTCK phái sinh dù mới ra đời nhƣng có sự tăng trƣởng mạnh mẽ, tốc độ phát triển tƣơng đối tốt, với mức tăng trƣởng năm sau cao hơn năm trƣớc. Trong vòng 3 năm qua, tính đến hết tháng 7/2020, đã có tổng số hơn 67,9 triệu hợp đồng tƣơng lai đƣợc giao dịch. Hoạt động trên thị trƣờng phái sinh đặc biệt sôi động vào những thời điểm thị trƣờng cơ sở có biến động mạnh. Thanh khoản trên thị trƣờng liên tục vƣợt qua các mốc đã đạt đƣợc trƣớc đó.
Nếu nhƣ năm 2019, khối lƣợng giao dịch bình quân trên TTCK phái sinh đạt 88.740 hợp đồng/phiên, tăng 12,6% so với năm trƣớc đó, thì chỉ tính riêng trong 7 tháng đầu năm 2020, khối lƣợng giao dịch bình quân đã tăng xấp xỉ 95% so với năm 2019, đạt 173.009 hợp đồng/phiên. Mức khối lƣợng giao dịch kỷ lục năm 2019 là 191.707 hợp đồng đã liên tục bị phá vỡ và kỷ lục mới nhất đƣợc thiết lập là mốc 356.033 hợp đồng tại 10 phiên giao dịch ngày 29/7/2020.