Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU AN TOÀN 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Sản xuất và phát triển sản xuất 1. Khái niệm về sản xuất Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người.
Sản xuất là một quá trình tạo ra sản phẩm. Quá trình này tính từ khi bắt đầu tiến hành sản xuất cho đến khi sản phẩm được tạo ra. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giá thành sản xuất? làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?(6) 1. Khái niệm về phát triển sản xuất Phát triển sản xuất là quá trình vận động của đối tượng sản xuất tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, nó cũng bao hàm việc phát triển về cả mặt lượng và mặt chất của sản xuất.
Có thể phân phát triển sản xuất theo hai hướng khá phổ biến là: phát triển theo chiều rộng và theo chiều sâu. Phát triển sản xuất theo chiều rộng: thể hiện việc có thêm một số loại sản phẩm, hàng hóa nhằm đáp ứng đồng bộ một loại nhu cầu của khách hàng. Trong phát triển sản xuất rau an toàn đó là sự gia tăng về diện tích, số lượng, chủng loại rau. Phát triển sản xuất theo chiều sâu: thể hiện ở việc đa dạng hóa kiểu cách, mẫu mã, kích cỡ của một loại sản phẩm, hàng hóa nhằm đáp ứng thị hiếu đa dạng các nhóm khách hàng khác nhau.
Trong sản xuất rau an toàn đó là sự gia tăng về mặt chất lượng rau an toàn, rau sản xuất ra phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, sự tiến bộ về cơ cấu chủng loại thích hợp theo mùa vụ nhằm 4 cung cấp đều đặn quanh năm cho nhu cầu tiêu dùng rau an toàn trong nước và xuất khẩu. Rau an toàn 1. Khái niệm Rau an toàn Rau an toàn (RAT) là khái niệm xuất hiện ở nước ta trong thời gian gần đây trước tình hình một số sản phẩm rau xanh được tiêu thụ trên thị trường đã gây ngộ độc thực phẩm cho người sử dụng. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) và tổ chức lương thực của liên hợp quốc (FAO) thì rau an toàn phải đảm bảo các yếu tố sau: - Rau đảm bảo phẩm cấp chất lượng không bị hư hại, dập nát, héo, và không ủ bằng hóa chất độc hại.
- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hàm lượng Nitrat và kim loại nặng dưới mức cho phép. - Rau không bị bệnh không có vi sinh vật gây hại cho con người và gia súc. - Tiêu chuẩn RAT thế giới và Việt Nam: Theo các nhà nghiên cứu hàm lượng các yếu tố gây ô nhiễm trên các sản phẩm rau như hàm lượng nitơ rát, kim loại nặng, hóa chất BVTV, vi sinh vật. có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm.
Do đó, sản phẩm rau đươc xem là an toàn khi đáp ứng được các thông số kỹ thuật cho phép của các cơ quan giám định và ở mỗi quốc gia đều xây dựng các chỉ tiêu phù hợp. Theo tổ chức Y tế thế giới, dư lượng cho phép trong sản phẩm rau đối với các yếu tố ô nhiễm như sau: 5 Bảng 1.1: Ngưỡng cho phép dư lượng nitrat trong một số loại rau (Theo qui định của WHO) ĐVT: mg/kg sản phẩm Loại rau Dư Lượng Loại rau Dư lượng Dư hấu 60 Hành tây Dưa bở 90 Cà chua 150 Ớt ngọt 200 Dưa chuột 150 Măng tây 200 Khoai tây 250 Đậu quả 200 Cà rốt 250 Ngô rau 300 Hành lá 400 Cải bắp 500 Bầu bí 400 Xu hào 500 Cà tím 400 Súp lơ 500 Xà lách 1500 (Nguồn: FAO, 1993) Bảng 1.2: Hàm lượng kim loại nặng (Theo quy định của WHO) ĐVT: mg/kg sản phẩm Loại kim loại Dư lượng Loại kim loại Dư lượng Chì (pb) 0,5 Camidi (Cd) 0,03 Asen (As) 0,2 Thủy ngân (Hg) 0,02 Đồng (Cu) 5,0 Kẽm (Zn) 10,0 Thiếc (Sn) 200,0 Aplatoxin BI 0,005 Paiutin 0,05 (Nguồn: FAO, 1993) Rau an toàn (RAT) là khái niệm được sử dụng để chỉ các loại rau được canh tác trên các diện tích dất có thành phần hóa - thổ nhưỡng được kiểm soát (nhất là kiểm soát hàm lượng kim loại nặng và chất độc hại có nguồn gốc từ phân bón, từ các chất bảo vệ thực vật và các chất thải sinh hoạt còn tồn tại trong đất đai), được sản xuất theo những quy trình nhất định (đặc biệt là quy 6 trình sử dụng phân bón thuốc trừ sâu và tưới nước), và nhờ vậy rau đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các cơ quan quản lý nhà nước đặt ra.(11) Gọi là rau an toàn vì trong quá trình sản xuất rau người ta vẫn sử dụng phân bón nguồn gốc vô cơ và chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên với liều lượng hạn chế hơn, thời điểm phù hợp hơn và chỉ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục cho phép. Trong rau an toàn tồn tại một dư lượng nhất định các chất độc hại, nhưng không đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. Theo tổ chức y tế thới giới rau an toàn là rau cần phải đạt được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về dư lượng thuốc BVTV, phân bón, kim loại nặng, và vi sinh vật trong rau phải đạt dưới mức tiêu chuẩn cho phép.
Nếu vi phạm một trong bốn tiêu chuẩn trên thì không được gọi là rau an toàn. Rau an toàn của Việt Nam được nói tới chủ yếu để phân biệt với rau được canh tác bằng các kỹ thuật thông thường, họ kiểm soát trên góc độ vệ sinh an toàn thực phẩm. Ở các nước phát triển với quy trình công nghệ sản xuất rau chuẩn, với sử dụng phân bón, thuốc BVTV kiểm soát được, vấn đề rau an toàn về cơ bản đã được giải quyết.(12) Bộ NN&PTNT của Việt Nam đưa ra các quy định về sản xuất rau an toàn như sau: Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn thân, lá, củ hoa và quả có chất lượng đúng như đặc tính của nó, hàm lượng hóa chất và mức độ ô nhiễm các vi sinh vật gây hại ở mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gọi tắt là rau an toàn. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm của sản phẩm rau đặt ra như sau.
Về hình thái: sản phẩm thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu cầu của từng loại rau, đúng độ chín kỹ thuât (hay thương phẩm), không dập nát , hư thối, không lẫn tạp, không sâu bệnh và có bao gói thích hợp 7 Về nội chất phải đảm bảo mức quy định cho phép + Dư lượng các loại hóa chất BVTV trong sản phẩm rau. + Hàm lượng NO3 tích lũy trong sản phẩm rau. + Hàm lượng tích lũy của một số kim loại nặng chủ yếu như: chì, thủy ngân, asen, cadimin, đồng. + Mức độ ô nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh (ecoli, sanmollela, trứng giun, sán.v) Sản phẩm rau an toàn chỉ được coi là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, khi hàm lượng tồn dư các chỉ tiêu trên không vượt quá giới hạn quy định.
Tóm lại, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học cho rằng: Rau an toàn là rau được sản xuất theo quy trình kỹ thuật đáp ứng nhu cầu sau: - Rau an toàn là rau đảm bảo phẩm cấp, chất lượng, không bị gây hại, dập nát, héo úa. - Dư lượng thuốc trừ sâu, BVTV hàm lượng NO3 và hàm lượng kim loại nặng dưới mức cho phép. - Không bị sâu bệnh, không có vi sinh vật gây hại cho người và gia súc(15) * Vai trò của sản xuất rau an toàn Sản xuất rau an toàn có vai trò và ý nghĩa rất to lớn trong nhiều mặt của đời sống, cụ thể là: - Về sức khỏe con người: Sản xuất và sử dụng rau an toàn có tác dụng tốt đến sức khỏe con người, giúp con người hấp thu đầy đủ các vitamin và dưỡng chất trong rau mà không phải lo lắng về vấn đề ngộ độc thực phẩm hay những ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe. Hơn nữa sản xuất rau an toàn còn góp phần bản vệ sức khỏe của người sản xuất do giảm thiểu tiếp xúc với các háo chất độc hại.
- Về môi trường: Bằng việc áp dụng các biện pháp canh tác đảm bảo cho cây rau hấp thu tốt nhất chất dinh dưỡng, nước mà không để lại tồn dư trong 8 sản phẩm, sản xuất rau an toàn đã làm giảm nguy cơ ô nhiễm trường và trở lên thân thiện với môi trường góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững. - Về kinh tế: Thực tế tại nhiều vùng trồng rau an toàn đã khẳng định trồng rau an toàn cho hiệu quả kinh tế cao gấp 3 lần trồng lúa và gấp 1,5 – 2 lần so với trồng rau theo phương pháp cũ. - Về hiệu quả xã hội: Khác với trồng lúa hay một số cây trồng khác, mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia trồng rau nói chung hay rau an toàn nói riêng. Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải quyết lao động ở nông thôn.
Mặt khác do có hiệu quả kinh tế cao, trồng rau an toàn làm tăng thu nhập cho người dân, cải thiện cuộc sống của họ, qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội.(15) * Nguyên nhân rau không an toàn Một số nguyên nhân chính khiến người tiêu dùng và các cơ quan quản lý Nhà nước nghi ngờ độ an toàn của rau, củ: Một là: Người nông dân chỉ quen sản xuất nhỏ lẻ, hầu như không áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới, các quy trình trồng rau, củ, quả an toàn và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan không cần quan tâm đến các loại thuốc, liều lượng, thời gian cách ly. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến sản phẩm rau trở nên không an toàn và gây ra nhiều vụ ngộ độc cấp tính trong thời gian gần đây đặc biệt là ở các đô thị lớn, khu công nghiệp. Thứ hai: Vấn đề quy hoạch sản xuất rau an toàn chưa đồng bộ và có quy mô về diện tích, thậm chí rau an toàn còn được canh tác xen kẽ với rau không an toàn và hoặc cây trồng khác như ngô và một số cây hoa màu.