Tổng quan nghiên cứu

Huyện Tân Sơn là địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ, với 14 trên tổng số 17 xã thuộc diện thụ hưởng chính sách hỗ trợ vùng sâu, vùng xa. Vào thời điểm năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo của toàn huyện ở mức đáng báo động là 52,42%, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 95% tổng số hộ nghèo. Đứng trước bài toán an sinh xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cây chè đã được xác định là cây công nghiệp dài ngày chủ lực mang sứ mệnh xóa đói giảm nghèo bền vững. Huyện sở hữu diện tích chè xấp xỉ 3.000 ha, đứng vị trí thứ hai toàn tỉnh Phú Thọ chỉ sau huyện Đoan Hùng, trong đó diện tích chè cho thu hoạch kinh doanh đạt gần 2.700 ha với sản lượng búp tươi hàng năm đạt xấp xỉ 26,5 ngàn tấn, năng suất bình quân tiệm cận 10 tấn/ha.

Mặc dù có tiềm năng tự nhiên vượt trội với các tiểu vùng khí hậu núi cao phù hợp sản xuất chè đặc sản, năng lực sản xuất của người dân địa phương – đặc biệt là các hộ nghèo – vẫn gặp nhiều rào cản về vốn đầu tư, trình độ thâm canh và tiếp cận thị trường tiêu thụ. Đề tài luận văn thạc sĩ "Giải pháp phát triển sản xuất chè cho hộ nghèo huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ" do tác giả Trần Dũng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đỗ Kim Chung tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá toàn diện thực trạng các chính sách hỗ trợ sản xuất chè giai đoạn 2015 - 2017, nhận diện điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng cao đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi các chương trình hỗ trợ đã đóng góp trực tiếp làm giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện năm 2016 xuống 12,7% so với năm 2015, và năm 2017 tiếp tục giảm 15,6% so với năm 2016, tạo sinh kế vững chắc cho hàng nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa và lý thuyết phân phối công bằng xã hội của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới cùng các nhà kinh tế học phát triển. Bản chất của phát triển sản xuất nông nghiệp trong kinh tế thị trường được tiếp cận theo hai chiều: phát triển theo chiều rộng thông qua mở rộng diện tích, tăng sản lượng vật chất và phát triển theo chiều sâu thông qua thâm canh tăng năng suất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và bảo vệ tài nguyên môi trường.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên hàm sản xuất nông nghiệp cổ điển có dạng tổng quát:

$$Q = f(X_1, X_2, X_3, ..., X_n)$$

Trong đó, tổng sản lượng chè ($Q$) là hàm số phụ thuộc vào các biến số đầu vào ($X_i$) gồm: diện tích đất canh tác, vốn đầu tư vật tư (giống mới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), lực lượng lao động nông hộ, trình độ tiếp thu khoa học kỹ thuật và năng lực liên kết chuỗi giá trị.

Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm then chốt:

  • Hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều khu vực nông thôn giai đoạn 2016 - 2020 (thu nhập bình quân đầu người dưới 700.000 đồng/tháng);
  • Hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp;
  • Chuỗi giá trị ngành hàng chè búp tươi;
  • Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới gắn với bao tiêu sản phẩm.

Hộ nghèo vùng cao thường rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo do thiếu tư liệu sản xuất và vốn tích lũy, vì vậy sự can thiệp và trợ lực từ chính sách công đóng vai trò đòn bẩy tái sản xuất mở rộng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập bài bản:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2010 - 2017 của Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tân Sơn cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan như Quyết định 755/QĐ-TTg, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Quyết định 102/2009/QĐ-TTg.
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa thông qua phương pháp chọn mẫu điều tra ngẫu nhiên có phân lớp với tổng quy mô mẫu là 150 hộ nghèo trồng chè tại 3 xã đại diện cho các tiểu vùng sinh thái của huyện: xã Thu Cúc (60 hộ), xã Thu Ngạc (50 hộ) và xã Đồng Sơn (40 hộ).

Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân lớp nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho toàn bộ 14 xã vùng sâu của huyện, phản ánh chính xác đặc điểm canh tác trên các địa hình đồi dốc khác nhau và tập quán của các nhóm đồng bào dân tộc Mường, Dao. Phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh kinh tế (hạch toán chi phí - doanh thu, so sánh ngày công lao động), phương pháp chuyên gia và phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu trong thực thi chính sách hỗ trợ công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cây chè mang lại hiệu quả kinh tế và độ ổn định thu nhập vượt trội so với tất cả các loại cây trồng truyền thống khác trên đất đồi dốc. Kết quả điều tra thực tế chứng minh rằng giá trị thu nhập tạo ra từ một ngày công lao động trồng chè cao gấp 2,6 lần so với cấy lúa nương, gấp 4,6 lần so với trồng sắn và gấp 4,0 lần so với trồng lạc. Nhờ đặc tính thu hoạch liên tục từ 8 đến 9 lứa hái mỗi năm, cây chè bảo đảm dòng tiền sinh hoạt thường xuyên cho các hộ nghèo, giúp hạn chế tình trạng đứt bữa giáp hạt.

Thứ hai, công tác chuyển đổi cơ cấu giống chè đạt bước tiến mạnh mẽ. Tỷ lệ cơ cấu các giống chè mới có năng suất và chất lượng cao như LDP1, LDP2, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên và PH1 đã chiếm trên 71% tổng diện tích trồng chè toàn huyện. Sự chuyển đổi này đã thay thế cơ bản các nương chè trung du già cỗi, nâng cao mật độ búp và độ dày của lá, tạo tiền đề nâng cao năng suất sinh khối búp tươi.

Thứ ba, các gói hỗ trợ công theo chính sách của Nhà nước đã tác động trực tiếp làm suy giảm tỷ lệ nghèo đa chiều. Nhờ được cấp phát giống chè mới, hỗ trợ phân bón trả chậm và hướng dẫn kỹ thuật canh tác, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện năm 2016 đã giảm 12,7% so với năm 2015, và năm 2017 tiếp tục giảm 15,6% so với năm 2016. Hàng trăm hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại Thu Cúc, Thu Ngạc đã tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững.

Thứ tư, chuỗi giá trị chè Tân Sơn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Mặc dù địa bàn có 3 cơ sở chè quốc doanh quy mô lớn quản lý trên 1.100 ha (gồm các xí nghiệp Minh Đài, Tân Phú, Phú Long thuộc Công ty liên doanh chè Phú Đa), công nghệ chế biến tại địa phương chủ yếu tập trung vào dòng chè đen thô và một phần chè xanh cấp thấp, thiếu vắng cơ sở chế biến chè cao cấp. Bên cạnh đó, thiệt hại do sâu bệnh hại hàng năm vẫn làm hao hụt từ 15% đến 30% sản lượng; tình trạng hỗ trợ giống nhưng thiếu đất sản xuất hoặc phân bón bị vón cục vẫn xảy ra cục bộ.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch giữa tiềm năng sản xuất và giá trị thu nhập thực tế của hộ nghèo xuất phát từ nhiều nguyên nhân nội tại. Địa hình huyện chia cắt mạnh với độ dốc trên 30 độ tại vùng núi thấp khiến chi phí vận chuyển vật tư tăng cao. Thêm vào đó, nguồn ngân sách địa phương hạn hẹp khiến mức đầu tư hạ tầng giao thông nội đồng và thủy lợi tưới tiêu chưa đáp ứng yêu cầu thâm canh. Tập quán canh tác quảng canh cũ của một bộ phận người dân tộc thiểu số cũng gây trở ngại lớn cho việc tuân thủ quy trình an toàn sinh học.

Khi so sánh với mô hình hỗ trợ phát triển chè tại tỉnh Thái Nguyên (vùng sản xuất trên 18.600 ha, sản lượng trên 125.000 tấn búp tươi, giá trị bình quân trên 70 triệu đồng/ha/năm với 46 cơ sở VietGAP) và cao nguyên Mộc Châu tỉnh Sơn La (với 1.822 ha gắn kết du lịch sinh thái và nhà máy chế biến chè Ô long xuất khẩu), huyện Tân Sơn đang bỏ lỡ phân khúc giá trị gia tăng cao. Các giống đặc sản như Phúc Vân Tiên, Bát Tiên tại Tân Sơn nếu được đầu tư công nghệ chế biến thành chè Ô long, chè túi nhúng hoặc chè xanh cao cấp sẽ cho giá trị thương phẩm cao gấp 5 đến 7 lần so với chế biến chè đen truyền thống. Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa qua bảng cân đối chi phí - lợi nhuận nông hộ và biểu đồ phân bổ sản lượng chế biến nhằm minh chứng tính cấp thiết của việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm đầu ra.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất và đồng bộ hóa vật tư đầu vào. Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn và Phòng Tài nguyên và Môi trường cần tiến hành rà soát, thu hồi quỹ đất lâm nghiệp sử dụng kém hiệu quả để giao tối thiểu 0,3 đến 0,5 ha đất sản xuất cho 100% hộ nghèo thiếu đất trước năm 2020. Song song đó, cung ứng 100% giống chè cành chất lượng cao (LDP1, Kim Tuyên) kèm gói hỗ trợ định mức phân bón cân đối theo khuyến cáo khoa học (80kg N, 40kg P2O5, 30kg K2O trên 1 ha đạt năng suất 2 tấn búp khô).

Thứ hai, đổi mới phương thức tập huấn và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trạm Khuyến nông huyện phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tổ chức các lớp đào tạo theo phương pháp thực hành trực tiếp tại đồng ruộng định kỳ 2 lần mỗi năm. Mục tiêu đặt ra là 100% hộ nghèo nắm vững quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM và tiêu chuẩn VietGAP, giúp cắt giảm tỷ lệ thất thoát do sâu bệnh hại từ mức 15 - 30% hiện nay xuống dưới 8% vào năm 2020.

Thứ ba, phát triển các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới và chuỗi liên kết bao tiêu. Ủy ban nhân dân các xã Thu Cúc, Thu Ngạc, Đồng Sơn đứng ra thành lập ít nhất 3 hợp tác xã chuyên ngành sản xuất chè an toàn, đóng vai trò cầu nối ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với 3 xí nghiệp chè quốc doanh và các công ty chế biến tư nhân, xóa bỏ tình trạng thương lái ép giá thu mua búp tươi.

Thứ tư, quy hoạch vùng chè an toàn gắn với công nghiệp chế biến sâu và quảng bá du lịch. Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn phối hợp cùng Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ xây dựng đề án bảo hộ nhãn hiệu chè đặc sản Tân Sơn, hỗ trợ lãi suất tín dụng ưu đãi theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP cho các cơ sở đầu tư máy sấy bơm nhiệt hiện đại; đồng thời quy hoạch các vùng chè đẹp tại xã Minh Đài, Long Cốc kết hợp tour du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Xuân Sơn nhằm gia tăng thu nhập dịch vụ cho nông hộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn sắc bén để các nhà quản lý xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách giảm nghèo đa chiều, tối ưu hóa các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn tiếp theo cho các địa bàn miền núi khó khăn.

Nhóm 2: Ban quản trị các hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, kinh doanh chè. Tài liệu mang lại góc nhìn chi tiết về cấu trúc vùng nguyên liệu nông hộ, từ đó giúp doanh nghiệp thiết kế hợp đồng liên kết sản xuất bao tiêu bền vững và chuyển đổi dây chuyền công nghệ sang phân khúc chè xanh, chè Ô long cao cấp.

Nhóm 3: Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp chọn mẫu điều tra phân lớp, ứng dụng hàm sản xuất trong kinh tế nông hộ và kỹ thuật phân tích hiệu quả kinh tế cây công nghiệp dài ngày.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý dự án sinh kế quốc tế. Công trình cung cấp bức tranh thực tế về đặc điểm sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số vùng trung du phía Bắc, làm cơ sở thiết kế các dự án tài chính vi mô và hỗ trợ thích ứng biến đổi khí hậu trên đất dốc.

Câu hỏi thường gặp

Cây chè có ưu thế kinh tế nổi bật nào so với các cây trồng khác tại huyện Tân Sơn? Cây chè thích nghi tối ưu với thổ nhưỡng đất dốc, chống xói mòn và cho thu hoạch từ 8 đến 9 lứa mỗi năm. Về mặt hiệu quả kinh tế, một ngày công lao động trồng chè mang lại thu nhập tương đương 2,6 ngày công làm lúa, 4,6 ngày công trồng sắn và 4,0 ngày công trồng lạc, tạo nguồn thu tiền mặt đều đặn cho nông hộ.

Quy mô khảo sát 150 hộ tại 3 xã có bảo đảm tính đại diện khoa học cho toàn huyện? Quy mô mẫu 150 hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân lớp tại 3 xã Thu Cúc (60 hộ), Thu Ngạc (50 hộ) và Đồng Sơn (40 hộ). Đây là 3 xã trọng điểm có diện tích chè lớn nhất và tập trung đông hộ nghèo, đại diện đầy đủ cho các tiểu vùng địa hình và tập quán của đồng bào dân tộc toàn huyện Tân Sơn.

Yếu tố đầu vào nào giữ vai trò then chốt nhất trong nâng cao năng suất chè búp? Giống cây trồng giữ vai trò tiên quyết số một trong quá trình canh tác. Việc đưa các giống chè cành mới có năng suất cao như LDP1, LDP2, Kim Tuyên chiếm tỷ lệ trên 71% diện tích đã tạo bước ngoặt tăng sản lượng, giúp cây sinh trưởng mạnh, búp mập và chống chịu sâu bệnh tốt hơn hẳn giống chè cũ.

Vì sao giá trị kinh tế thu được từ cây chè tại Tân Sơn vẫn chưa tương xứng với tiềm năng? Nguyên nhân chủ yếu do khâu chế biến sâu còn hạn chế, chủ yếu sản xuất chè đen thô giá trị thấp. Các giống đặc sản chưa được chế biến thành chè Ô long hay chè xanh cao cấp, trong khi đó sâu bệnh hại vẫn làm thất thoát 15% đến 30% sản lượng và liên kết hợp tác xã còn rời rạc.

Kinh nghiệm phát triển chè từ Thái Nguyên và Mộc Châu có thể áp dụng ra sao tại Tân Sơn? Tân Sơn có thể học tập mô hình hỗ trợ ứng dụng máy móc hiện đại như máy sấy bơm nhiệt, đẩy mạnh cấp chứng nhận an toàn VietGAP cho trên 80% diện tích, đồng thời kết hợp quảng bá thương hiệu chè gắn liền với phát triển du lịch trải nghiệm đồi chè sinh thái để gia tăng thu nhập cho người dân.

Kết luận

  • Cây chè khẳng định vai trò là cây kinh tế mũi nhọn xóa đói giảm nghèo bền vững tại huyện Tân Sơn với quy mô canh tác xấp xỉ 3.000 ha và năng suất bình quân tiệm cận 10 tấn/ha.
  • Hiệu quả kinh tế của sản xuất chè vượt trội so với cây lương thực và hoa màu truyền thống, đóng góp quyết định vào việc kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ 12,7% đến 15,6% mỗi năm giai đoạn 2015 - 2017.
  • Luận văn nhận diện toàn diện các rào cản cốt lõi về chất lượng vật tư đầu vào, phương pháp tập huấn khuyến nông, liên kết hợp tác xã và năng lực chế biến sâu các sản phẩm chè chất lượng cao.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về giao đất sản xuất, chuẩn hóa giống mới, quản lý dịch hại IPM và quy hoạch chuỗi giá trị gắn với du lịch sinh thái mở ra lộ trình phát triển rõ ràng đến năm 2020.
  • Các cấp chính quyền địa phương, doanh nghiệp chế biến và cộng đồng nông hộ cần nhanh chóng phối hợp hành động để đưa ngành chè Tân Sơn trở thành biểu tượng kinh tế nông nghiệp hàng hóa phát triển bền vững vùng Tây Bắc.