CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1.1 Cơ sở lý luận về quỹ đầu tư chứng khoán 1.1 Khái niệm và lợi ích khi đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán 1.1 Khái niệm về quỹ đầu tư chứng khoán Trên thị trường tài chính (TTTC), quỹ đầu tư (QĐT) là loại hình trung gian tài chính tăng trưởng rất nhanh và là kênh đầu tư vốn quan trọng cho các nhà đầu tư (NĐT) trên thị trường chứng khoán (TTCK), đặc biệt là các TTCK mới nổi đang phát triển. QĐT có nhiều cách tiếp cận như sau: Theo Luật Công ty đầu tư 1940 của Mỹ thì QĐT là các tổ chức tài chính được quản lý chặt chẽ và phải tuân theo các điều luật và quy chế của Liên bang và các Tiểu bang. Theo tự điển Banking and Informationtics thì QĐT là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ nhiều nguồn khác nhau để đầu tư vào các loại tài sản như cổ phiếu, trái phiếu và tiền tệ. Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ (CTQLQ), ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác.
Theo Điều 3 Luật Chứng khoán Việt Nam thì QĐT chứng khoán là quỹ được hình thành từ vốn góp của các NĐT với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó NĐT không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Khi tham gia vào quỹ, các NĐT sẽ nhận được chứng chỉ quỹ (CCQ) là loại chứng khoán do CTQLQ đại diện phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT đối với tài sản hoặc vốn góp của quỹ theo tỷ lệ tương ứng với số đơn vị quỹ của NĐT trong vốn điều lệ. Trên thế giới, việc đầu tư vào các QĐT chứng khoán từ lâu đã trở thành một kênh đầu tư rất phổ biến và được ưa chuộng, đồng thời QĐT còn là một bộ phận cấu thành quan trọng, góp phần vào sự phát triển của TTCK và nền kinh tế nói chung. Các QĐT sẽ có vòng đời xác định được ghi rõ trong Bản cáo bạch, thường là 6 10 hoặc 20 năm.
Hết thời hạn này, quỹ có thể được gia hạn hoạt động hoặc giải thể. Vốn điều lệ quỹ là số vốn bằng tiền do tất cả các NĐT thực góp và được ghi trong điều lệ quỹ.2 Lợi ích khi đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán Tại sao người dân ở các nền kinh tế phát triển lại thích đầu tư gián tiếp vào chứng khoán thông qua các QĐT hơn là đầu tư trực tiếp vào các công ty? Đó là vì họ nhận thấy QĐT có những lợi ích sau: - Phân tán rủi ro: QĐT có thể đầu tư vào nhiều loại chứng khoán của các ngành công nghiệp khác nhau theo mục tiêu của quỹ. Việc sở hữu một nhóm các loại chứng khoán khác nhau dù không loại bỏ hoàn toàn các rủi ro tiềm ẩn nhưng có thể giúp hạn chế rủi ro do giá của mỗi loại chứng khoán khác nhau có thể bù đắp cho nhau và tối ưu hóa lợi nhuận. - Đủ khả năng đầu tư: NĐT có thể đầu tư gián tiếp vào các công ty lớn (blue-chips) hoặc sở hữu nhiều loại chứng khoán khác nhau với mức vốn tối thiểu thông qua việc sở hữu CCQ.
- Giảm thiểu chi phí đầu tư: Một trong những nhân tố quan trọng khiến hình thức QĐT hấp dẫn các NĐT đó là chi phí đầu tư. Sự so sánh có thể khác nhau, nhưng với các NĐT vừa và nhỏ thường phải trả chi phí đầu tư nhiều hơn một QĐT trong việc thực hiện mua bán chứng khoán trong một danh mục đầu tư. Lý do là chi phí giao dịch trong hầu hết các thị trường từ trước đến nay đều có liên quan chặt chẽ với quy mô giao dịch. Chi phí giao dịch của các NĐT cá nhân đối với các khoản mua bán nhỏ thường cao hơn nhiều vì giá trị của mỗi giao dịch họ thực hiện nhỏ hơn nhiều so với các QĐT khi họ giao dịch với số lượng chứng khoán lớn hơn.
- Quản lý chuyên nghiệp: Quản lý đầu tư đòi hỏi phải tiêu tốn thời gian, nguồn lực và năng lực chuyên môn cao, điều mà hầu hết những NĐT cá nhân không thực hiện được. Khi đầu tư vào quỹ tức là NĐT đang thuê những nhà quản lý chuyên nghiệp thực hiện các công việc mua, bán và giám sát các khoản đầu tư của mình. 7 - Bảo vệ NĐT: Hoạt động của quỹ được điều chỉnh và giám sát bởi UBCKNN và SGDCK. Tài sản của quỹ luôn được giám sát bởi ngân hàng giám sát và báo cáo định kỳ.
Tính minh bạch được bảo đảm nhờ hệ thống báo cáo rõ ràng, đầy đủ từ các CTQLQ.2 Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán 1.1 Đối với nền kinh tế Để phát triển bền vững nền kinh tế rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn, QĐT tạo ra các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư. Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn lớn, thông qua QĐT các nguồn vốn sẽ được đầu tư vào các dự án trung và dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước. QĐT còn khuyến khích dòng chảy vốn nước ngoài. Đối với luồng vốn đầu tư gián tiếp (FII), việc đầu tư vào quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, kiến thức và thông tin về chứng khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư.
Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp (FDI), QĐT góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho NĐTNN trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức mạnh trong nước ở các liên doanh. Bên cạnh đó, QĐT còn góp phần hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp trong nước: tiếp cận nguồn tài chính dài hạn, cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính, doanh nghiệp khác. Lợi ích này của QĐT được đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi.2 Đối với thị trường chứng khoán Trên TTCK, QĐT là một định chế tài chính trung gian nên có những vai trò cơ bản sau: - Quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói chung và góp phần phát triển vào thị trường sơ cấp. Các QĐT tham gia bảo lãnh trái phiếu 8 Chính phủ (TPCP) và trái phiếu doanh nghiệp, cung cấp vốn cho sự phát triển doanh nghiệp thông qua mua cổ phiếu của các đợt phát hành ra công chúng (IPO).
Với chức năng này, các QĐT giữ vai trò quan trọng trên thị trường sơ cấp. Thị trường sơ cấp phát triển sẽ cung cấp hàng hóa đa dạng cho các danh mục đầu tư của quỹ, tăng hiệu quả hoạt động, giúp cho các các quỹ tăng trưởng và phát triển. - Quỹ góp phần vào việc ổn định thị trường thứ cấp. Với vai trò là các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK, các QĐT góp phần bình ổn giá cả trên thị trường thứ cấp, góp phần phát triển vào thị trường này thông qua các hoạt động đầu tư chuyên nghiệp với các phương pháp đầu tư khoa học.
- Quỹ góp phần tạo ra các phương thức huy động vốn đa dạng qua TTCK. Khi nền kinh tế phát triển và các tài sản chính ngày càng tạo khả năng sinh lời hơn, NĐT có khuynh hướng muốn có nhiều dạng công cụ tài chính để đầu tư. Để đáp ứng nhu cầu của người đầu tư, các QĐT hình thành dưới nhiều dạng sản phẩm tài chính khác nhau như quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu, quỹ cân bằng, quỹ đầu tư doanh nghiệp tăng trưởng, quỹ đầu tư tư nhân,… có thời gian đáo hạn, khả năng sinh lời và mức độ rủi ro được kiểm soát tốt. - Quỹ làm cho các hoạt động đầu tư chứng khoán mang tính xã hội hóa: QĐT tạo một phương thức đầu tư được ưa thích đối với các NĐT nhỏ, ít có sự hiểu biết về chứng khoán, góp phần tăng tiết kiệm của công chúng bằng việc thu hút tiền nhàn rỗi đầu tư vào quỹ.3 Đối với Nhà đầu tư Khi các NĐT, đặc biệt các NĐT cá nhân có những hạn chế nhất định về kiến thức, kinh nghiệm, thời gian để trực tiếp tham gia trên TTCK thì họ tìm đến những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp để ủy thác số tiền đầu tư của mình.
Như vậy, so với hình thức đầu tư trực tiếp thì đầu tư thông qua quỹ, NĐT sẽ có được những lợi thế nhất định: - Đa dạng hóa danh mục đầu tư, phân tán rủi ro: Các hình thức đầu tư của quỹ rất đa dạng, phong phú nên NĐT đa dạng hóa danh mục đầu tư thông qua quỹ nhằm giảm thiểu rủi ro. NĐT sẽ có nhiều cơ hội đầu tư vào các loại quỹ khác nhau 9 như: quỹ toàn cầu, quỹ quốc tế, quỹ tương hỗ, quỹ phòng ngừa rủi ro, quỹ giao thương,… tham gia gián tiếp trên TTCK thông qua định chế tài chính trung gian này. Như vậy, đa dạng hóa danh mục đầu tư, chuyển những tài sản nhiều rủi ro thành những tài sản ít rủi ro là ưu thế vượt trội của QĐT so với các hình thức đầu tư khác. - Giảm chi phí giao dịch và nghiên cứu: Các NĐT nhỏ khi đầu tư cần có những kỹ năng cần thiết để tìm hiểu, phân tích và đánh giá về chứng khoán, TTCK và các lĩnh vực đầu tư để đưa ra quyết định đầu tư đảm bảo hiệu quả đầu tư cao nhất.
Tuy nhiên, các NĐT riêng lẻ thường không có những kỹ năng này lẫn trình độ chuyên môn. Bên cạnh đó, việc thu thập và xử lý thông tin từ các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết sẽ hao tốn rất nhiều thời gian, công sức lẫn chi phí nghiên cứu. QĐT với tư cách là NĐT chuyên nghiệp có thể giúp các NĐT có thể giảm thiểu tất cả những chi phí trên do ưu thế về trình độ chuyên môn nhất định. - Đảm bảo hiệu quả đầu tư cao do tính chuyên nghiệp hoạt động đầu tư với các chuyên viên có trình độ chuyên môn về chứng khoán, TTCK và các lĩnh vực đầu tư khác.
Các nhà quản lý quỹ cung cấp dịch vụ quản lý và nghiên cứu thị trường trong các môi trường mà các NĐT thường không hiểu rõ ràng.