CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về Thẻ 1. Lịch sử hình thành, phát triển Là một phương tiện thanh toán hiện đại, văn minh trên thế giới, thẻ ngân hàng ra đời trên cơ sở giải quyết những rắc rối và rủi ro phát sinh ngày càng tăng trong việc sử dụng tiền mặt. Tuy là một dịch vụ của Ngân hàng nhưng nơi đầu tiên phát hành thẻ lại do công ty Mỹ là Western Union cung cấp.
Tấm thẻ đầu tiên ra đời vào năm 1914 là một tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi để đảm bảo hai chức năng cơ bản: Nhận dạng khách hàng và có thể lưu trữ thông tin được in nổi trên tấm kim loại. Sự tiện lợi từ thẻ Western Union làm cho các công ty khác như General Petroleum của Mỹ cũng phát hành thẻ, đó là thẻ xăng dầu vào năm 1924. Như vậy, có thể nói nơi đầu tiên phát hành thẻ là các công ty và thẻ đầu tiên là thẻ kim loại. Sự phát triển của thẻ tiếp tục với sự ra đời của thẻ tín dụng đầu tiên vào năm 1950 do Frank Mc Namara và Ralph Schneider, hai doanh nhân người Mỹ, đồng thành lập ra Diners Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng mà quên đem theo tiền mặt.
Chính việc phải cam kết thanh toán đã gợi lên một ý tưởng kinh doanh thẻ đối với Frank Mc Namara. Và tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm bằng chất liệu plastic đã được ra đời. Hai ông đã cung cấp cho bạn bè, đồng nghiệp của mình thẻ Diners Club, cho phép họ có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà hàng, khách sạn ở New York và thanh toán số tiền này định kỳ theo tháng. 5 Từ khi mới xuất hiện, ngày càng có nhiều tổ chức tham gia vào lĩnh vực kinh doanh này do hình thức thanh toán mới đã mang lại tiện ích cho khách hàng và hứa hẹn là một ngành kinh doanh mới đầy triển vọng.
Tuy nhiên, thực tế đòi hỏi những tiện ích vượt trội hơn nữa của thẻ thanh toán, đó là mở rộng phạm vi sử dụng không chỉ trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Trước đòi hỏi đó, InterBank (MasterCharge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó đổi tên là TCTQT Visa. Còn MasterCharge cũng trở thành TCTQT MasterCard vào năm 1979.
Sự ra đời của hai TCTQT này đánh dấu bước phát triển quan trọng và vượt bậc đối với thị trường thẻ. Không những góp phần đưa dịch vụ thẻ trở thành dịch vụ phổ biến mà còn tạo ra động lực thúc đẩy mạnh mẽ dịch vụ thẻ phát triển. Ngày nay đã có 5 TCTQT lớn trên toàn cầu là Visa, MasterCard, American Express, JCB và Diner Club với phần lớn các loại thẻ lưu hành trên thế giới chủ yếu do các tổ chức trên phát hành. Đối với Việt Nam, thẻ ngân hàng lần đầu tiên được chấp nhận do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ký hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa với Ngân hàng Singapore năm 1990.
Từ đó cũng mở ra phương thức thanh toán mới tại Việt Nam. Ngày nay, với sự tham gia của hầu hết các tổ chức phát hành thẻ trong Hiệp hội thẻ Việt Nam, thị trường thẻ đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với các hình thức, chủng loại đa dạng, phong phú, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng. Khái niệm thẻ quốc tế Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với việc 6 ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do NHPH thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp tại các điểm chấp nhận thẻ.
Như vậy, thẻ ngân hàng thực chất là sự cam kết của ngân hàng đảm bảo thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ gửi tại ngân hàng. Với ưu thế về thời gian thanh toán, tính an toàn, hiệu quả trong quá trình sử dụng và phạm vi thanh toán rộng, ngày nay, thẻ ngân hàng đã trở thành công cụ thanh toán phổ biến và có vị trí quan trọng trong các công cụ thanh toán. Thẻ nội địa là sản phẩm thẻ có phạm vi sử dụng hạn chế trong nước, NHPH và NHTT đều là các ngân hàng thuộc một quốc gia thực hiện phát hành và thanh toán thẻ. Khác với thẻ nội địa, TQT là sản phẩm thẻ có phạm vi sử dụng rộng hơn, đặc biệt là NHPH và NHTT có thể thuộc các quốc gia khác nhau.
TQT là một sản phẩm của thẻ ngân hàng, do vậy nó mang các đặc tính và tính chất của thẻ ngân hàng và phát triển thêm những tính năng mở rộng. TQT là thẻ mang thương hiệu của các TCTQT do các ngân hàng, tổ chức tín dụng làm đại lý phát hành. TQT có thể được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất kỳ các ĐVCNT hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó. Để phát hành TQT, NHPH thẻ phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của TCTQT, tuân thủ chặt chẽ các qui định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do TCTQT đó ban hành.
Cấu tạo thẻ quốc tế Thẻ ngân hàng luôn được cấu tạo theo kích cỡ chuẩn quốc tế và phải chứa đựng các yếu tố: Nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của đơn vị phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ. Ngoài ra thẻ còn có thể có tên công ty chịu 7 trách nhiệm thanh toán thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo qui định của TCTQT. Mặt trước của thẻ Biểu tượng: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo.
- VISA: Hình chữ nhật 3 mầu: Xanh, trắng, vàng có chữ Visa chạy ngang giữa màu trắng, trên hình chữ nhật 3 màu là hình chim bồ câu đang bay in chìm. - MASTERCARD: Có 2 hình tròn lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải (một hình mầu da cam, một hình mầu đỏ) và dòng chữ MasterCard mầu trắng chạy ở giữa; trên hai hình tròn lồng nhau là hai nửa quả cầu lồng nhau in chìm. - JCB: Biểu tượng 3 mầu xanh công nhân, đỏ, xanh lá cây, có chữ JCB chạy ngang giữa. - AMEX: Biểu tượng hình đầu người chiến binh.
Số thẻ: Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ. được dập nổi trên thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại thẻ mà chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau. Thời gian hiệu lực của thẻ: Là thời hạn mà thẻ được phép lưu hành.
Tuỳ theo từng loại mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ. Họ và tên chủ thẻ: được in chữ nổi trên mặt trước của thẻ. Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: Mỗi loại thẻ luôn có ký hiệu an ninh kèm theo in phía sau của ngày hiệu lực. Ví dụ: Thẻ Visa có chữ V (hoặc CV, PV, RV, GV), thẻ MasterCard có chữ M và chữ C lồng vào nhau.
8 Thẻ Amex còn in thêm số mật mã cho từng đợt phát hành. Mặt sau thẻ Dải băng từ có khả năng lưu trữ các thông tin như: Số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, NHPH… Dải băng chữ ký: Trên dải băng này phải có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp nhận thẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ. Phân loại thẻ quốc tế TQT có nhiều cách để phân loại, nhưng chủ yếu phân loại theo một số tiêu thức chính như tính chất thanh toán, công nghệ sản xuất,v. Phân loại theo tính chất thanh toán Xét theo tính chất thanh toán, TQT được chia làm hai loại sau: Thẻ tín dụng (Credit Card) Thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép người sử dụng chi tiêu trước trả tiền sau.
Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau. Chủ thẻ phải thanh toán số dư nợ trong một thời gian nhất định nếu không chủ thẻ sẽ phải chịu lãi suất cao. Hạn mức tín dụng của chủ thẻ mang tính tuần hoàn, được lặp lại khi chủ thẻ thanh toán dư nợ. Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng.
Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên tiêu chí như: thu nhập, tình hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế chấp của khách hàng. 9 Thẻ tín dụng quốc tế là công cụ thanh toán hiện đại, văn minh và có tính thông dụng trên toàn thế giới. Thẻ ghi nợ (Debit Card) Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, nó cho phép khách hàng tiếp cận với số dư tài khoản qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy rút tiền tự động (ATM). Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản, ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ và thu phí dịch vụ.
Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng thường không diễn ra quá trình vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng là có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của khách hàng. Chính vì vậy về mức độ có thể thay thế tiền mặt thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt trội hơn thẻ tín dụng. Phân loại theo công nghệ sản xuất TQT được chia làm ba loại sau: Thẻ từ (Mangnetic Stripe) Là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau thẻ. Mọi thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều được mã hoá trong băng từ.