phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc đề tài gồm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về ngân hàng bán lẻ và phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ tại ng n hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Sở Giao dịch III Ng n hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ tại Sở Giao dịch III Ng n hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ VÀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Khái niệm ngân hàng bán lẻ Thuật ngữ “ng n hàng bán lẻ”, có từ gốc tiếng Anh là “Retail banking”. Hiện nay chƣa có một định nghĩa chính xác về hoạt động NHBL.
Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ bình thƣờng, bán lẻ là bán trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng từng sản phẩm một. Nó khác với bán buôn là bán cho ngƣời trung gian, cho nhà ph n phối của hàng hóa đó. Trong lĩnh vực ng n hàng, định nghĩa về bán lẻ có hơi khác một chút. Trong cuốn Từ điển Ng n hàng và Tin học thì Retail banking – hoạt động ng n hàng bán lẻ - nghiệp vụ ng n hàng bán lẻ - dịch vụ ng n hàng bán lẻ - là dịch vụ ng n hàng dành cho quảng đại quần chúng, thƣờng là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nh n.
Theo khái niệm của Tổ chức thƣơng mại Thế giới (WTO ) thì dịch vụ ng n hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ng n hàng nơi mà khách hàng cá nh n có thể đến giao dịch tại những chi nhánh ( phòng giao dịch ) của các ng n hàng để thực hiện các dịch vụ nhƣ: gửi tiền tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số các dịch vụ khác đi kèm… Theo Ngân hàng thƣơng mại – Quản trị nghiệp vụ thì thuật ngữ “ng n hàng bán lẻ” đƣợc đề cập tới nhƣ là một loại hình ng n hàng chia theo tính chất hoạt động mà loại hình đó chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nh n với các khoản tín dụng nhỏ. 6 Theo học viện công nghệ Ch u Á- AIT thì NHBL có thể hiểu là: “việc cung ứng dịch vụ ng n hàng tới từng cá nh n riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lƣới các chi nhánh, hoặc là khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ ng n hàng thông qua các phƣơng tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông”. Theo Từ điển Đầu tƣ “Ng n hàng bán lẻ là hoạt động ng n hàng phục vụ cho thị trƣờng đại chúng nơi mà các khách hàng cá nh n đƣợc cung cấp dịch vụ qua mạng lƣới chi nhánh địa phƣơng của các ng n hàng. Các dịch vụ Ng n hàng bán lẻ cung cấp bao gồm: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi không kì hạn, cho vay mua nhà, tín dụng cá nh n, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và một số dịch vụ khác Nhƣ vậy, qua các định nghĩa trên có thể thấy quan niệm “Ngân hàng bán lẻ” có 2 cách hiểu khác nhau do cách ph n nhóm đối tƣợng khác nhau: một quan niệm cho rằng đối tƣợng hoạt động NHBL bao gồm khách hàng cá nh n, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ, một quan niệm khác cho thấy, đối tƣợng hoạt động NHBL chỉ bao gồm khách hàng cá nh n, hộ gia đình.
Trên cơ sở xuất phát từ thực tế nghiên cứu hoat động NHBL tại BIDV, tác giả x y dựng đề tài nghiên cứu trên cơ sở xác định đối tƣợng hoạt động NHBL chỉ là khách hàng cá nh n, hộ gia đình và có thể đi đến một định nghĩa khái quát về hoạt động NHBL nhƣ sau: “Ngân hàng bán lẻ là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ và các hộ gia đình thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông”. Mục tiêu của hoạt động NHBL là khách hàng cá nh n, hộ gia đình nên dịch vụ thƣờng đơn giản, dễ thực hiện và thƣờng xuyên, tập trung vào dịch vụ tài khoản, tiền gửi, vay vốn, mở thẻ tín dụng, nhu cầu về dịch vụ ngày càng gia tăng. 7 Nhờ ứng dụng CNTT trong dịch vụ NHBL giúp đẩy nhanh quá trình lu n chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời sống d n cƣ, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ng n hàng và khách hàng. Đặc điểm ngân hàng bán lẻ Một là, Đối tượng khách hàng số lượng lớn, nhu cầu đa dạng.
Đối tƣợng của hoạt động ng n hàng bán lẻ là khách hàng cá nh n, hộ gia đình, do đó số lƣợng khách hàng của ng n hàng bán lẻ lớn hơn rất nhiều so với ng n hàng bán buôn. Khách hàng cá nh n bao gồm nhiều độ tuổi, nhiều nghề nghiệp, nhiều vị trí trong xã hội và yêu cầu đối với dịch vụ ng n hàng rất khác nhau. Chính đối tƣợng của dịch vụ ng n hàng bán lẻ yêu cầu các ng n hàng phải suy nghĩ và phát triển đƣợc các sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tƣợng khách hàng. Đối với các hộ gia đình, ng n hàng thƣờng là nguồn tài trợ duy nhất cho họ.
Vì vậy để có thể đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng, ng n hàng cần phải biết tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá đƣợc mức độ rủi ro cũng nhƣ lợi ích ng n hàng nhận đƣợc khi tài trợ cho những đối tƣợng khách hàng này. Ng n hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với d n cƣ và nền kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hóa tài chính nhƣ hiện nay, nhu cầu về dịch vụ ng n hàng bán lẻ sẽ ngày càng phát triển vì NHBL là việc cung ứng sản phẩm dịch vụ ng n hàng tới từng cá nh n riêng lẻ và đang trở thành nhu cầu cấp thiết trong cuộc sống hiện đại nên số lƣợng khách hàng tìm đến dịch vụ là vô cùng lớn. Hai là, Hoạt động ngân hàng bán lẻ bao gồm nhiều giao dịch với giá trị của mỗi giao dịch không lớn, chi phí bình quân cho mỗi giao dịch khá cao.
Dịch vụ NHBL phục vụ cho các nhu cầu thanh toán thƣờng xuyên của 8 ngƣời d n nhƣ thanh toán tiền hàng, vay tiêu dùng. Khách hàng cần phải lựa chọn cách thức để thỏa mãn một cách tốt nhất các nhu cầu này nhƣng phải trong mức độ tài chính đƣợc cho phép. Các khoản vay có giá trị nhỏ là cách hợp l nhất bởi vì nó đủ để thỏa mãn các nhu cầu nhất định trong cuộc sống nhƣng lại không làm gia tăng sức ép phải trả nợ, giúp n ng cao đƣợc chất lƣợng cuộc sống khiến họ có cơ hội n ng cao trình độ và gia tăng thu nhập. Tuy nhiên so sánh về số dƣ huy động vốn, dƣ nợ tín dụng hay phí dịch vụ thì kết quả của ng n hàng bán lẻ ít hơn so với ng n hàng bán buôn.
Nhƣng nếu tính tổng tất cả các món huy động thì số dƣ huy động từ khách hàng là đối tƣợng của ng n hàng bán lẻ cũng tạo ra cho ng n hàng một nguồn vốn đáng kể, đồng thời lại có tính ổn định và tăng trƣởng bền vững nếu ng n hàng đó duy trì một lãi suất hấp dẫn và hoạt động kinh doanh ổn định. Đối với hoạt động tín dụng bán lẻ, hầu hết giá trị món vay là nhỏ lẻ, ph n tán với kỹ thuật vay đơn giản, nhƣ đối với phƣơng thức cho vay tiêu dùng (mua nhà, mua ôtô, thấu chi…). Do quy mô của từng hợp đồng vay thƣờng nhỏ dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, chi phí thẩm định, giám sát khoản vay lớn, do đó lãi suất cho vay tiêu dùng thƣờng cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thƣơng mại và lĩnh vực công nghiệp, chi phí bình qu n cho mỗi giao dịch thƣờng lớn. Ba là, Hoạt động ngân hàng bán lẻ phát triển trên nền tảng công nghệ cao và marketing đóng vai trò ngày càng quan trọng.
Thực tế cho thấy dịch vụ ng n hàng bán lẻ mang tính đồng nhất rất cao, do đó vấn đề quan trọng là ng n hàng nào biết tạo ra sự khác biệt trong dịch vụ, tính tiện ích cao thì ng n hàng đó sẽ có lợi thế trong cạnh tranh. Sản phẩm dịch vụ ng n hàng bán lẻ là mốc đầu tiên đánh dấu sự phát triển về công nghệ với hệ thống thông tin tích hợp và tập trung, đóng một vai trò quan trọng cho phép NHTM ứng dụng và triển khai các sản phẩm bán lẻ trên nền tảng công 9 nghệ hiện đại. Hàng loạt tiện ích đã đƣợc đƣa vào sử dụng nhƣ chuyển tiền tự động có chu kỳ linh hoạt hơn với nhiều tính năng bổ trợ; chức năng đầu tƣ tự động cho phép khách hàng thanh toán lãi, gốc tiền vay toàn phần và từng phần. Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT là tiền đề quan trọng để lƣu trữ và xử l cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến đƣợc thực hiện.
CNTT có tác dụng tăng cƣờng khả năng quản trị trong ng n hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác. Bên cạnh đó, do đặc trƣng đối tƣợng khách hàng cá nh n nhạy cảm với chính sách marketing nên họ dễ dàng thay đổi nhà cung cấp dịch vụ khi các sản phẩm cung cấp không tạo sự khác biệt và tính cạnh tranh cao.