Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. THÔNG TIN DI ĐỘNG (TTDĐ) 1. Khái niệm TTDĐ là dịch vụ thông tin vô tuyến hai chiều cho phép thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ có thể sử dụng các loại hình dịch vụ thoại và phi thoại trong phạm vi vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ. Chỉ với một máy cầm tay di động, thuê bao có thể sử dụng được nhiều dịch vụ viễn thông cơ bản như dịch vụ thoại, dịch vụ nhắn tin (nhắn tin thông thường và nhắn tin đa phương tiện), dịch vụ truyền số liệu, dịch vụ internet.
Do ưu thế của dịch vụ TTDĐ là thuê bao có thể di chuyển vị trí mà vẫn có thể sử dụng được dịch vụ cho nên ngày càng được ưa chuộng, đặc biệt đối với những khách hàng năng động có nhu cầu sử dụng thường xuyên nhiều loại thông tin. Chính vì vậy mà dịch vụ TTDĐ đang ngày càng thu hút được nhiều khách hàng sử dụng. Đặc điểm của dịch vụ TTDĐ Dịch vụ TTDĐ là một dịch vụ viễn thông có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng quyết định đến việc tổ chức kinh doanh dịch vụ này: Là loại sản phẩm tiêu dùng một lần, một phút đàm thoại đã trôi qua thì không thể sử dụng lại được, muốn tiếp tục đàm thoại khách hàng phải tiếp tục tiêu dùng các đơn vị dịch vụ (các phút đàm thoại) mới; Mang lại hiệu quả thông tin liên lạc tới mọi nơi, mọi lúc; Có tính bảo mật cao vì thông tin trong lúc truyền đi đã được mã hóa; Giá thành sản xuất ra một đơn vị giá trị sử dụng của dịch vụ TTDĐ ở những vùng khác nhau rất khác nhau, dịch vụ được tạo ra ở đâu thì được bán tại đó, không thể tính đến việc sản xuất ở những nơi có chi phí thấp để bán ở những nơi có doanh thu cao. Trong cơ chế thị trường, đặc điểm này ảnh hưởng đáng kể đến tổ chức hoạt động viễn thông.
Dịch vụ TTDĐ được tiêu thụ ngay trong quá trình tạo ra nó, vì vậy việc đảm bảo chất lượng khai thác mạng lưới, chất lượng dịch vụ có yêu cầu rất cao; Có tính chất kinh tế mạng. Kinh doanh dịch vụ TTDĐ gắn liền với quá trình thông tin liên lạc giữa các thuê bao với nhau. Mỗi thuê bao có thể coi là một nút TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 trong một mạng liên kết gồm nhiều thuê bao. Khi có nhiều nút thì mối liên hệ giữa các nút tăng lên là cơ hội để xuất hiện một cuộc liên lạc giữa các nút tăng lên.
Nói cách khác càng nhiều thuê bao thì mỗi thuê bao gọi đi càng nhiều, lưu lượng đàm thoại tăng nhanh hơn cấp số cộng. Thêm một thuê bao nhà cung cấp sẽ bán được không phải là một mà nhiều hơn một đơn vị sản phẩm. Một thuê bao trên mạng dù không gọi đi thì vẫn có ý nghĩa làm phát sinh lưu lượng vì các thuê bao khác gọi đến thuê bao này. Do tính chất hai chiều và tính kinh tế mạng nói trên, phát triển thuê bao là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kinh doanh dịch vụ TTDĐ.
Khái quát tình hình phát triển thông tin di động tại Long An Biểu đồ tăng trưởng thuê bao di động tại tỉnh Long An và toàn quốc 300.00% 2007 2008 2009 2010 Nguồn: tổng hợp Long An Cả nước Hình 1.1: Biểu đồ tăng trưởng thuê bao di động tại tỉnh Long An và toàn quốc Theo xu hướng tăng trưởng thuê bao di động cả nước, tăng trưởng thuê bao di động trên địa bàn tỉnh Long An cũng giảm dần. Điều này cho thấy thị trường TTDĐ dần bảo hòa. Thuê bao di động tại Long An chiếm trên 138,12% dân số của tỉnh (1.452 thuê bao), khả năng thu hút thuê bao mới rất hạn chế. Do vậy, các nhà mạng cần tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ chân khách hàng, thu hút thuê bao cố định chuyển sang thuê bao di động và thuê bao từ các nhà mạng khác.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. Cạnh tranh Cạnh tranh xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XVIII, xuất phát từ “tự do kinh tế” mà Adam Smith đã phát hiện. Thuật ngữ cạnh tranh được hiểu theo nhiều cách.
Theo tự điển Tiếng Việt, cạnh tranh là “tranh đua nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau.”(1) Theo tự điển thuật ngữ Kinh tế học, cạnh tranh là: “sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên, hay nhiều bên cố giành lấy thứ mà không phải ai cũng có được.”(2) Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là yêu cầu của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Do đó, quan niệm về cạnh tranh được hiểu là “sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó, bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất.”(3) Khả năng cạnh tranh Năng lực cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh Vị thế cạnh tranh Môi trường cạnh tranh Hình 1.2: Mô hình cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khả năng cạnh tranh Khả năng bên trong hay nội lực của doanh nghiệp.
Đánh giá khả năng cạnh tranh nhằm đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Môi trường cạnh tranh Bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài doanh nghiệp. Môi trường bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh tế vi mô. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trong môi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trường kinh doanh kinh tế vi mô, có quan hệ tương tác với các lực lượng khác trong môi trường.
Doanh nghiệp có thể có những tác động nhất định tới môi trường kinh doanh kinh tế vi mô. Nhưng đối với các yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô, doanh nghiệp chỉ có thể tìm cách thích nghi mà không thể kiểm soát được. Năng lực cạnh tranh (NLCT) Hiện nay, chưa có một định nghĩa nào về NLCT (NLCT doanh nghiệp, NLCT quốc gia) được mọi người công nhận. Michael Porter nhận định “không có một định nghĩa nào về NLCT được mọi người thừa nhận một cách phổ biến.”(4) Theo quan niệm của Humbert Lesca: “NLCT là năng lực của doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp.
OECD đưa ra nhận định “NLCT là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo tự điển thuật ngữ chính sách thương mại “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia, không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế.” (7) Theo Hội đồng cạnh tranh Mỹ “Sức cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi mức sống của dân chúng có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài.”(8) “Trong nền kinh tế công nghiệp, NLCT có nghĩa là phải tạo ra một nền sản xuất có năng suất cao hơn với việc sử dụng đầu vào ít nhất mà tạo đầu ra nhiều nhất. NLCT của một doanh nghiệp, của một ngành là năng suất so sánh giữa các doanh nghiệp cùng loại hoặc giữa các ngành cùng loại của các nước khác nhau”(9). Trong nền kinh tế tri thức, cơ sở của NLCT là tri thức, là kỹ thuật cao, là dịch vụ hoàn hảo.
Lúc này thị trường chú ý đến giá trị hơn là chú ý tới sản lượng. “Với lượng của cải ngang nhau, doanh nghiệp nào tạo ra giá trị cao hơn thì doanh nghiệp đó có NLCT cao hơn.”(10) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tóm lại, NLCT của doanh nghiệp có thể hiểu yếu tố nội hàm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi môi trường cạnh tranh. NLCT của doanh nghiệp “là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và lợi thế phát triển bền vững. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế hơn đối thủ cạnh tranh đạt được nhờ trao cho khách hàng giá trị lớn hơn, hoặc thông qua giá hạ, hoặc bằng cách cung cấp những lợi ích mà có thể biện minh cho mặt bằng giá cao hơn.
Lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nhiều hoạt động riêng biệt của doanh nghiệp trong thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối và hỗ trợ sản phẩm. Mỗi hoạt động trong số này đều đóng góp vào tình trạng chi phí tương đối của doanh nghiệp, tạo cơ sở khác biệt hóa. Theo Michael Porter “Lợi thế cạnh tranh về cơ bản xuất phát từ giá trị mà một xí nghiệp có thể tạo ra cho người mua mà lợi thế đó vượt quá phí tổn của xí nghiệp”(12). Lợi thế cạnh tranh muốn nói tới sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia nhiều hơn như chất lượng quản lý, chất lượng sản phẩm, chất lượng sáng tạo, năng suất, môi trường kinh doanh.
Vị thế cạnh tranh Thuật ngữ “vị thế” phát sinh từ quan niệm cho rằng các đối thủ cạnh tranh nắm giữ các vị trí khác nhau trong tâm trí của người tiêu dùng. Yêu cầu tất yếu của cạnh tranh Cạnh tranh được sử dụng để điều chỉnh sự can thiệp của doanh nghiệp đối với thị trường đầu ra. Dựa trên những lợi thế về nguồn lực, doanh nghiệp sẽ xây dựng và lựa chọn chiến lược cạnh tranh phù hợp để tạo ảnh hưởng lớn hơn tới thị trường. Do vậy, cạnh tranh là một tất yếu đối với sự sống còn của mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết về cạnh tranh 1. Lý thuyết về cạnh tranh của Michael Porter (13) 1. Mô hình năm áp lực cạnh tranh M.
Porter coi trọng vai trò của doanh nghiệp, của ngành mà doanh nghiệp tham gia trong quá trình cạnh tranh.