chương 1- trang 2 ] Như vậy khu công nghiệp ở Việt Nam được hiểu giống với định nghĩa thứ hai trong đó: Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành 9 z lập và hoạt động trong khu công nghiệp gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. Doanh nghiệp sản xuất khu công nghiệp là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp. Doanh nghiệp dịch vụ khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp. Như vậy, sự hình thành khu công nghiệp tập trung phản ánh bước đi đúng đắn trong việc thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nó đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ của phần lớn các doanh nghiệp, phát triển nhanh một số ngành có lợi thế, hình thành một số ngành mũi nhọn trong các lĩnh vực chế biến nông sản thực phẩm, cơ khí công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất vật liệu xây dựng. Việc hình thành các khu công nghiệp tập trung tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở công nghiệp, phát triển mạnh công nghiệp nông thôn tạo ra nhiều sản phẩm công nghiệp mới.2 Khái niệm về khu chế xuất Khu chế xuất là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Anh là “Export Processing Zone - EPZ”. Xung quanh khái niệm về khu chế xuất cho đến nay các nhà kinh tế học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Tại Việt Nam, khu chế xuất thường được hiểu theo nghĩa hẹp theo đó khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu.
Khu chế xuất là khu khép kín, có ranh giới địa lý được xác định trong quyết định thành lập khu chế xuất nhưng biệt lập với các vùng lãnh thổ ngoài khu chế xuất bằng một hệ thống tường rào. Khu chế xuất được hưởng một quy chế quản lý riêng quy định tại Quy chế khu chế xuất. 10 z Về cơ bản, khu chế xuất là khu kinh tế tự do, ở đó các xí nghiệp công nghiệp được tổ chức ra để chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu. Thông thường, nước chủ nhà đứng ra xây dựng cơ sở hạ tầng khu chế xuất, xây dựng công trình sản xuất và phục vụ đời sống ở đây.
Sau đó kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài mang vốn, thiết bị, nguyên vật liệu. từ nước ngoài vào, thuê nhân công của nước chủ nhà, tổ chức thành lập khu chế xuất, tiến hành sản xuất hàng hoá để bán ra thị trường thế giới. Các mặt hàng dưới dạng máy móc, thiết bị, nguyên liệu nhập khẩu vào khu chế xuất và hàng hoá được xuất khẩu ra thị trường thế giới đều được miễn thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, ở một số khu chế xuất cũng có hoạt động kinh doanh mua bán lại công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu trong nội bộ khu chế xuất hoặc giữa các khu chế xuất với nhau hay việc bán hàng hoá được sản xuất từ khu chế xuất vào thị trường nước chủ nhà.
Vì vậy, khu chế xuất còn được gọi là khu chế biến xuất khẩu, khu mậu dịch tự do (Malaysia), đặc khu kinh tế (Trung Quốc), khu chế xuất tự do (Hàn Quốc).3 Khái niệm về khu công nghệ cao. Khu công nghệ cao ra đời với nhiều tên gọi khác nhau như: Trung tâm công nghệ, Trung tâm khoa học, Khu phát triển công nghiệp. Mục đích và ý nghĩa chung của nó là xung quanh một cơ sở hạt nhân nào đó thành lập những khu vực, lĩnh vực nhất định với một kết cấu hạ tầng riêng nhằm đảm bảo quá trình chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất một cách nhanh chóng và hiệu quả. Các khu công nghệ cao đều có đặc điểm là có sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh .Việc thành lập khu công nghệ cao ở bất cứ nước nào cũng nhằm phát triển công nghiệp kỹ thuật cao, thu hút chất xám để tạo ra sản phẩm có hàm lượng khoa học cao hơn hẳn sản phẩm ở khu công nghiệp hay khu chế xuất, nhằm tạo ra bước đột phá quan trọng để phát triển công nghệ và công nghiệp trong nước.
Chính phủ 11 z nước sở tại thường dành nhiều điều kiện ưu đãi để khuyến khích các nhà đầu tư, các nhà khoa học làm việc, nghiên cứu và ứng dụng tại các khu công nghệ cao để cho ra đời những sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao. Tóm lại, khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, gồm nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một chế độ ưu tiên nhất định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Phân biệt khu công nghiệp với khu chế xuất. Điểm giống nhau : Cả KCN và KCX đều là những địa bàn sản xuất công nghiệp gồm nhiều xí nghiệp vừa và nhỏ, không có dân cư sinh sống, có ranh giới pháp lý riêng, có Ban quản lý riêng do Chính phủ thành lập.
Về cơ sở hạ tầng, KCN và KCX đều được cung cấp đầy đủ các yếu tố hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đạt các tiêu chuẩn quy định để phục vụ trực tiếp cho hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp. Về cơ cấu ngành, KCN và KCX thường tập trung vào các ngành truyền thống mà trong nước có lợi thế so sánh như dệt may, giầy da, chế biến nông - lâm - thuỷ hải sản.và các ngành công nghiệp mới như điện tử, lắp ráp. Điểm khác nhau : KCN có phạm vi hoạt động rộng hơn KCX, nó không chỉ bao gồm các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và dịch vụ dành cho xuất khẩu mà còn gồm tất cả các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Các doanh nghiệp 100% vốn trong nước có thể được hoạt động trong KCN, khác với KCX là phải có liên kết với các công ty có vốn nước ngoài.
Các ưu đãi từ phía Chính phủ cũng được thực hiện đối với các doanh nghiệp 12 z trong KCN chú trọng tới việc sản xuất hàng xuất khẩu, do đó những doanh nghiệp này sẽ được hưởng chế độ ưu đãi như trong KCX và đồng thời được hưởng song song ưu đãi như trong KCN. KCX là khu vực thu hút các dự án đầu tư nước ngoài để xuất khẩu. Quan hệ doanh nghiệp chế xuất với thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương giống như quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. KCX là khu thương mại tự do, bởi vì hàng hoá từ KCX ra nước ngoài và ngược lại không phải chịu thuế xuất nhập khẩu và ít bị ràng buộc bởi hàng rào phi thuế quan.
Quan hệ giữa các doanh nghiệp KCN với thị trường nội địa là quan hệ nội thương (trừ doanh nghiệp chế xuất trong KCN được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp trong KCX). KCN không phải là khu thương mại tự do mà là khu sản xuất tập trung. Về điều kiện ưu đãi, doanh nghiệp KCX được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10% và miễn thuế trong 4 năm đầu đối với doanh nghiệp sản xuất, nộp 15% và miễn 2 năm đối với doanh nghiệp dịch vụ. Doanh nghiệp KCN nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 15% đối với doanh nghiệp xuất khẩu dưới 50% sản phẩm trong 2 năm ; 10% đối với doanh nghiệp xuất khẩu trên 80% sản phẩm và trong 2 năm.
Đối với nước sở tại thì KCX có nhiều mặt lợi hơn so với KCN bởi một số lý do sau đây : + Doanh nghiệp chế xuất không được trực tiếp sử dụng thị trường nội địa nên khó cạnh tranh với sản xuất trong nước. + Nguồn ngoại tệ trong nước được bổ sung và tăng lên nhờ hoạt động của KCX. + Thúc đẩy việc mở cửa thị trường nội địa nhanh hơn, phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu. 13 z Tuy nhiên đối với nhà đầu tư tại KCX lại gặp một số khó khăn.
Để có thể xuất khẩu được 100% sản phẩm thì doanh nghiệp cần phải đạt được đồng thời nhiều yếu tố như : tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, giá cả hợp lý, phù hợp với những hàng rào phi thuế quan của nước nhập khẩu, thoả mãn yêu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng nước nhập khẩu, có năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.Do có nhiều khó khăn nên các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn hình thức KCN nhằm tận dụng lợi thế về thị trường nội địa. Vì vậy việc xây dựng thành công các KCX thường gặp khó khăn hơn KCN. Nhưng việc một địa phương hay một quốc gia có quá nhiều KCN hoạt động tương ứng với nó sẽ có hàng nghìn doanh nghiệp sản xuất do nước ngoài đầu tư phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước sẽ dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt không cần thiết trên thị trường nội địa. Để khuyến khích đầu tư vào KCX, Chính phủ cần rà soát lại toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô theo tinh thần khuyến khích mạnh hơn, ưu đãi nhiều hơn cho KCX và làm cho nó có đủ sức hấp dẫn lớn hơn đối với các nhà đầu tư so với KCN.
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng của các KCN và KCX là không ít khó khăn nhưng việc kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn này còn khó khăn hơn nhiều. Chất lượng của một KCX hay KCN phụ thuộc nhiều vào chất lượng của các dự án đầu tư đã thu hút được. Như vậy, KCN và KCX có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế. Đối với KCN thường được thành lập ở những vùng mà kinh tế chưa phát triển, nguồn lao động dư thừa nhưng có một số yếu tố thuận lợi như : nguồn tài nguyên, vị trí địa lý.KCN được nhận một sự ưu tiên nhất định từ phía Chính phủ và chính quyền địa phương với một vai trò nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế vùng.
KCN bao gồm các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.