Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT PHỤC VỤ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn 1. Khái niệm về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kỹ thuật đô thị Hệ thống hạ tầng kỹ thuật (hay còn gọi là cơ sở hạ tầng cấp 3) là tập hợp các công tác thiết kế, thi công các công trình, thiết bị kĩ thuật của đô thị – các hệ thống giao thông đô thị, cung cấp nước sinh hoạt, thoát nước mặt, thoát nước thải, cung cấp điện, đường dây thông tin, cung cấp hơi đốt, xử lý rác,. Những hệ thống thiết bị kĩ thuật này nhằm đảm bảo tiện nghi trong sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng dân cư đô thị.
Các hệ thống hạ tầng đô thị này thường được đặt ngầm,trên mặt đất và trên cao, được kết hợp với nhau theo những nguyên tắc kĩ thuật có liên quan. Đô thị là điểm dân cư tập chung có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp, có quy mô dân số, có mật độ dân số, tỷ lệ dân số phi nông nghiệp theo các quy định trong Nghị định số 42/ 2009/ NĐ - CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 về việc phân loại đô thị, tổ chức lập, thẩm định đề án và quyết định công nhận loại đôthị. Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước, xử lý các chất thải, nghĩa địa, nghĩa trang; cây xanh công viên và các công trình khác. Đây là những cơ sở vật chất, những công trình phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân trong đô thị nó là những công trình mang tính dịch vụ công cộng.
Theo quy định tại văn bản quy hoạch xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành thì hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: - Hệ thống giao thông; - Hệ thống cung cấp năng lượng; - Hệ thống chiếu sáng công cộng; - Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước; 9 n - Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường; - Hệ thống nghĩa trang; - Các công trình hạ tầng kỹ thuật khác. Nghèo và thu nhập thấp Khái niệm nghèo, và nghèo đa chiều Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định.
Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ. Nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo.Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người do đó cần đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều, từ góc độ nghèo vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội. Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Các tiêu chí về thu nhập a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. b) Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản 10 n a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Thứ hai, tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: – Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. – Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt bao gồm: trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Ngưỡng thiếu hụt đa chiều đối với một hộ gia đình là từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Như vậy, Dựa vào 2 tiêu chí trên để xác định mức chuẩn nghèo, hộ nghèo là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau: – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống. – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu và từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu, và dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu và từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
11 n Hộ có mức sống dưới trung bình: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ dưới chuẩn mức sống trung bình và cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu. Trên đây, là các tiêu chí để đánh giá hộ nghèo mới nhất do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mà bạn có thể tham khảo. Để xác định mức chuẩn nghèo trên để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội, làm cơ sở hoạch định các chính sách kinh tế – xã hội trong giai đoạn 2016-2020 Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều.
Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5). Chuẩn nghèo đa chiều bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.
Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Trên cơ sở 5 chiều cạnh nghèo, Bộ LĐTB&XH đã xây dựng và đề xuất 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa chiềutương ứng là: giáo dục người lớn, giáo dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, nhà ở, nước sạch, hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Các chỉ số đo lường này được trình bày trong Bảng 1 dưới đây 12 n Bảng 1. Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam Chiều Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý nghèo Hiến pháp 2013 Hộ gia đình có ít nhất 1 thành NQ 15/NQ-TW viên đủ 15 tuổi sinh từ năm Một số vấn đề chính sách xã 1.1 Trình độ giáo 1986 trở lại không tốt nghiệp hội giai đoạn 2012-2020.
dục của người lớn trung học cơ sở và hiệnNghị quyết số 41/2000/QH không đi học (bổ sung bởi Nghị định số 1) Giáo dục 88/2001/NĐ-CP) Hiến pháp 2013. Luật Giáo dục 2005. Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ Luật bảo vệ, chăm sóc và 1.2 Tình trạng đi em trong độ tuổi đi học (5 - giáo dục trẻ em. học của trẻ em 14 tuổi) hiện không đi học NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.
Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/ chấn thương 2.1 Tiếp cận cácnặng đến mức phải nằm một Hiến pháp 2013. dịch vụ y tế chỗ và phải có người chăm Luật Khám chữa bệnh 2011. sóc tại giường hoặc nghỉ 2) Y tế việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường) Hiến pháp 2013. Hộ gia đình có ít nhất 1 thành Luật bảo hiểm y tế 2014.2 Bảo hiểm y tế viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại NQ 15/NQ-TW Một số vấn không có bảo hiểm y tế đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.
Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn Luật Nhà ở 2014. Chất lượngsơ NQ 15/NQ-TW Một số vấn 3) Nhà ở nhà ở (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: đề chính sách xã hội giai nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà đoạn 2012-2020. thiếu kiên cố, nhà đơn sơ) Luật Nhà ở 2014.