CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển Doanh nghiệp thương mại dịch vụ 1. Khái niệm và bản chất của Doanh nghiệp TMDV 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp TMDV Doanh nghiệp thương mại dịch vụ ra đời do sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa trong sản xuất. Một bộ phận người sản xuất tách ra chuyên đưa hàng ra thị trường để bán, dần dần công việc đó được cố định vào một số người và phát triển thành các đơn vị, các tổ chức kinh tế chuyên làm nhiệm vụ mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụ để thu lợi nhuận.
Những người đó được gọi là Thương nhân. Đầu tiên Doanh nghiệp TMDV được xem như là Doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các công việc mua bán hàng hóa dịch vụ (T-H-T) sau đó hoạt động mua bán phát triển và trở nên phức tạp, đa dạng hơn xuất hiện dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại, do đó Doanh nghiệp TMDV được hiểu là Doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực mua bán hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ nhằm thảo mãn nhu cầu của khách hàng nhằm thu lợi nhuận. Đặc thù của của Doanh nghiệp TMDV là hoạt động trong lĩnh vực phân phối lưu thông, thực hiện lưu chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng chứ không sản xuất ra các hàng hóa đó, mua để bán chứ không phải để tiêu dùng. Doanh nghiệp TMDV là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh có đủ các điều kiện mà pháp luật quy định, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và cho phép kinh doanh những mặt hàng, dịch vụ mà pháp luật không cấm.
Doanh nghiệp TMDV phải có tổ chức, đảm bảo những điều kiện về vốn, về tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi kinh doanh và hàng hóa dịch vụ kinh doanh của mình.2 Phân loại doanh nghiệp thương mại dịch vụ * Căn cứ vào phương thức kinh doanh - Doanh nghiệp bán buôn - Doanh nghiệp bán lẻ 6 Đại học Kinh tế Huế - Doanh nghiệp kinh doanh hỗn hợp (bán buôn và bán lẻ) * Căn cứ vào tính chất của mặt hàng kinh doanh - Doanh nghiệp kinh doanh chuyên môn hóa: đó là các Doanh nghiệp chuyên kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất nhất định. - Các Doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp: là các Doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng có công dụng, trạng thái, tính chất khác nhau. - Các Doanh nghiệp kinh doanh đa dạng hóa (hỗn hợp): các Doanh nghiệp kinh doanh cả sản xuất, cả kinh doanh hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ thương mại. * Theo quy mô của doanh nghiệp - Doanh nghiệp thương mại dịch vụ có quy mô nhỏ.
- Doanh nghiệp thương mại dịch vụ có quy mô vừa. - Doanh nghiệp thương mại dịch vụ có quy mô lớn. Để xếp loại doanh nghiệp người ta thường căn cứ vào hệ thống các tiêu thức khác nhau. Đối với Doanh nghiệp TMDV tiêu thức để xếp loại là số vốn kinh doanh, số lượng lao động, doanh số hàng hóa lưu chuyển hàng năm, phạm vi kinh doanh.
* Theo phân cấp quản lý - Các Doanh nghiệp TMDV do các bộ, các ngành của Trung ương quản lý. - Các Doanh nghiệp TMDV do địa phương quản lý như các Doanh nghiệp TMDV thuộc tỉnh (thành phố), thuộc tỉnh, quận, thị trấn, thị xã quản lý. * Theo chế độ sở hữu tư liệu sản xuất - Doanh nghiệp TMDV nhà nước: là Doanh nghiệp được nhà nước đầu tư hoặc cấp 100% vốn kinh doanh. - Doanh nghiệp TMDV tập thể: là Doanh nghiệp mà vốn kinh doanh do tập thể người lao động tự nguyện góp vào để kinh doanh.
- Các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh. - DNTN: do các tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ vốn kinh doanh.3 Vai trò của Doanh nghiệp TMDV * Vài trò là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng 7 Đại học Kinh tế Huế Doanh nghiệp TMDV là hợp phần tất yếu, quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, là nơi thể hiện đầy đủ, tập trung nhất các mối quan hệ lớn trong xã hội: quan hệ giữa sản xuất với tiêu dùng; giữa cung và cầu; giữa tiền và hàng; giữa xuất khẩu với nhập khẩu; giữa thu và chi ngân sách, đồng thời cũng là nơi diễn ra các cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa cơ chế quản lý cũ chưa bị xóa bỏ hoàn toàn với cơ chế quản lý mới chưa hoàn chỉnh cùng đan xen tồn tại với nhau. Bởi vậy Doanh nghiệp TMDV phải phát huy vai trò là cầu nối, là trung gian cần thiết giữa sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Hoạt động của các Doanh nghiệp TMDV góp phần tạo ra các điều kiện vật chất cần thiết để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân; điều chỉnh tỷ lệ cân đối trong sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, phát huy vai trò chỉ đạo, điều tiết thị trường, xứng đáng là công cụ chủ yếu của Nhà nước trong việc điều tiết và quản lý vĩ mô.
* Vai trò thúc đẩy sản xuất, cung ứng dịch vụ mở rộng lưu thông Doanh nghiệp TMDV có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, cung ứng dịch vụ, mở rộng lưu thông tạo điều kiện không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của các Doanh nghiệp, tích cực góp phần tăng tích lũy xã hội nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập mau chóng vào nền kinh tế thế giới. * Vai trò phân phối hàng hóa, dịch vụ nơi thừa đến nơi thiếu Doanh nghiệp TMDV có vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường nước ngoài thông qua hoạt động XNK, đưa hàng hóa dịch vụ trong nước ra nước ngoài và nhập hàng hóa, thiết bị kỹ thuật. Lí luận về phát triển Doanh nghiệp thương mại dịch vụ 1.1 Khái niệm phát triển Doanh nghiệp thương mại dịch vụ Phát triển Doanh nghiệp TMDV: là sự mở rộng quy mô Doanh nghiệp cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức Doanh nghiệp. Phát triển Doanh nghiệp có 2 mức độ từ thấp lên cao là tăng trưởng và phát triển.
* Tăng trưởng: là sự lớn mạnh của Doanh nghiệp nhưng ở mức độ thấp, trong đó cơ cấu Doanh nghiệp chưa có sự thay đổi lớn như: 8 Đại học Kinh tế Huế - Mở rộng quy mô kinh doanh (thêm mạng lưới cung ứng và các điểm bán hàng, tuyển thêm lao động, phát triển thêm một số sản phẩm mới như tính chất công nghệ sản xuất về cơ bản không đổi). - Thâm nhập vào một số thị trường mới. - Có vị trí quan trọng trong số các Doanh nghiệp cùng ngành hàng ở khu vực và trong nước. * Phát triển: là sự lớn mạnh của Doanh nghiệp ở mức độ cao, trong đó có sự biến đổi to lớn về cấu trúc Doanh nghiệp (về quy mô, về trình độ công nghệ, về thị trường cạnh tranh…).
Các hình thức phát triển Doanh nghiệp TMDV: - Mở rộng quy mô kinh doanh. - Mở rộng phạm vi thị trường. - Tổ chức lại phương thức kinh doanh. - Mở thêm Doanh nghiệp mới.
- Sáp nhập thêm các Doanh nghiệp TMDV khác để mở rộng quy mô. - Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của Doanh nghiệp TMDV Để đánh giá chính xác và có cơ sở khoa học về sự phát triển của Doanh nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu chi tiết. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các chỉ tiêu đánh giá sau: * Chỉ tiêu số lượng - Số lượng doanh nghiệp qua thời gian và phân theo ngành hoạt động. * Các chỉ tiêu đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh - Số lao động cuả doanh nghiệp.
- Nguồn vốn: nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn theo quy mô. - Công nghệ và cơ sở hạ tầng. * Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh Doanh thu: là tổng thu nhập của Doanh nghiệp do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung cấp các dịch vụ cho bên ngoài sau khi trừ các khoản thuế tiêu thụ (Thuế TTĐB, 9 Đại học Kinh tế Huế thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp phải nộp) và trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại). Lợi nhuận: là số lợi nhuận thu được trong năm của các Doanh nghiệp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong năm.
Đây là tổng lợi nhuận của toàn Doanh nghiệp, tức là đã bù trừ giữa các hoạt động có lãi và hoạt động bị thua lỗ.3 Sự cần thiết về phát triển Doanh nghiệp TMDV Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên Thế giới, các Doanh nghiệp TMDV đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và trong mạng lưới sản xuất toàn cầu và chuỗi cung ứng hàng hoá và dịch vụ. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay vai trò của các Doanh nghiệp TMDV được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau: - Thứ nhất: Đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng GDP. Cũng như Doanh nghiệp TMDV ở tất cả các nước, Doanh nghiệp TMDV ở Việt Nam cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hoá tiêu dùng khác. - Thứ hai: Thu hút vốn của các nguồn lực có sẵn có trong dân cư.
VĐT là một yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh. Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và phối hợp các yếu tố khác trong kinh doanh như lao động, công nghệ và quản lý…để tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều Doanh nghiệp đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng không huy động được. Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa thực sự tạo được niềm tin đối với những người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh, thành lập Doanh nghiệp.
Dưới khía cạnh đó, Doanh nghiệp TMDV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế.