chương I Luật Du lịch Việt Nam khẳng định: “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”, Định nghĩa này không chỉ khẳng định dịch vụ du lịch là đầu ra của các hoạt động du lịch, mà còn bao hàm cả các dịch vụ được cung cấp bởi ngành du lịch [14,10]. Khác với các ngành dịch vụ khác, dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách đi du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch. Dịch vụ du lịch có những đặc điểm cơ bản: + Tính phi vật chất Đây là tính chất quan trọng nhất của dịch vụ du lịch. Tính phi vật chất đã làm cho du khách không thể nhìn thấy hay thử nghiệm sản phẩm từ trước.
Do đó, đối với du khách thì dịch vụ du lịch là rất trừu tượng khi mà họ chưa một lần tiêu dùng nó. Dịch vụ luôn đồng hành với những sản phẩm vật chất nhưng dịch vụ luôn mãi mãi tồn tại tính phi vật chất của mình. + Tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng thể hiện sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hoá. Đối với hàng hoá (vật chất) quá trình sản xuất và tiêu dùng tách rời nhau, người ta có thể sản xuất sản phẩm ở một nơi khác và ở một thời gian khác với nơi bán và tiêu dùng.
Còn đối với dịch vụ thì không thể như Luan van 10 vậy. Do có tính đồng thời như trên nên sản phẩm dịch vụ du lịch không thể lưu kho được. Chẳng hạn như thời gian nhàn rỗi của nhân viên du lịch lúc không có khách không thể để dành cho lúc cao điểm, một phòng khách sạn không cho thuê được trong ngày thì đã coi như mất dịch vụ. Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung - cầu cũng không thể tách rời nhau.
Cho nên việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong du lịch là hết sức quan trọng. + Tính không chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ Khi mua hàng hoá, người mua có quyền được sở hữu đối với hàng hoá và sau đó có thể sử dụng nó như thế nào, nhưng đối với dịch vụ khi được thực hiện thì không có quyền sở hữu nào được chuyển từ người bán sang người mua. Chẳng hạn, khi đi du lịch, khách du lịch được chuyển chở, được ở khách sạn, được sử dụng bãi biển nhưng trên thực tế họ không có quyền sở hữu đối với chúng. + Tính không di chuyển của dịch vụ du lịch Các cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ nên dịch vụ du lịch thuộc loại không di chuyển được, khách muốn tiêu dùng dịch vụ thì phải đến các cơ sở du lịch.
Do đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ và đem lại hiệu quả kinh doanh, khi xây dựng các điểm du lịch cần lựa chọn địa điểm thoả mãn các điều kiện tự nhiên: địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí tượng, tài nguyên, môi trường sinh thái và điều kiện xã hội. + Tính thời vụ của dịch vụ Dịch vụ có đặc trưng rất rõ nét ở tính thời vụ. Ví dụ các khách sạn ở các khu nghỉ mát thường vắng khách vào mùa đông nhưng lại rất đông khách vào mùa hè. Các nhà hàng trong khách sạn thường đông khách ăn vào trưa hoặc chiều tối, hoặc các khách sạn gần trung tâm thành phố thường đông khách vào ngày nghỉ cuối tuần.
Chính đặc tính cầu cao điểm của dịch vụ dẫn đến tình trạng cung cầu dịch vụ dễ mất cân đối, vừa gây lãng phí cơ sở vật chất lúc trái Luan van 11 vụ và chất lượng dịch vụ có nguy cơ giảm sút khi gặp cầu cao điểm. + Tính trọn gói của dịch vụ du lịch Dịch vụ du lịch thường là dịch vụ trọn gói bao gồm các dịch vụ cơ bản, dịch vụ bổ sung. Tính chất trọn gói của dịch vụ du lịch xuất phát từ nhu cầu đa dạng và tổng hợp của du khách, mặt khác nó cũng đòi hỏi tính chất đồng bộ của chất lượng dịch vụ. + Tính không đồng nhất của dịch vụ du lịch Do khách hàng rất muốn chăm sóc như là những con người riêng biệt nên dịch vụ du lịch thường bị cá nhân hoá và không đồng nhất.
Doanh nghiệp rất khó đưa ra các tiêu chuẩn dịch vụ nhằm làm thoả mãn tất cả khách hàng trong mọi hoàn cảnh vì sự thoả mãn đó phụ thuộc vào sự cảm nhận và trông đợi của từng khách hàng. Donald Davidoff đã cho rằng sự thoả mãn của khách hàng về dịch vụ được đo lường bằng sự so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi của bản thân khách hàng. S=P-E S: Satisfaction (sự thoả mãn) P: Perception (sự cảm nhận) E: Expectation (sự trông đợi) Mối quan hệ giữa ba yếu tố S, P, E có tính chất quyết định mọi vấn đề của dịch vụ. Các biến số P, E đều phụ thuộc rất nhiều vào phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo và tâm sinh lý, nhu cầu chủ quan của cá nhân khách hàng.
Hệ thống sản xuất, cung ứng dịch vụ Để có thể tạo ra một hệ thống dịch vụ hoàn chỉnh đòi hỏi phải có một hệ thống sản xuất và cung ứng dịch vụ đó. Như vậy, không có hệ thống sản xuất và cung ứng thì tất yếu không thể có dịch vụ. Một dịch vụ cụ thể sẽ gắn liền với một hệ thống sản xuất và cung ứng. Hệ thống này gắn liền với quy Luan van 12 mô, sự thiết kế, ý tưởng, chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp và mức dịch vụ cung ứng cho khách hàng.
Hệ thống sản xuất, cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố về vật chất và con người, được tổ chức chặt chẽ theo một hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng, nhằm đảm bảo thực hiện quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ một cách có hiệu quả [16, tr. Các yếu tố của hệ thống sản xuất và cung ứng dịch vụ có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mọi sự thay đổi của một yếu tố để có thể dẫn đến những sự thay đổi của các yếu tố trong hệ thống. Nếu có những sự thay đổi lớn của một vài yếu tố sẽ dẫn đến sự thay đổi của cả hệ thống và có thể làm thay đổi loại hình dịch vụ sẽ được cung ứng.
Hệ thống sản xuất, cung ứng dịch vụ có thể được khái quát qua sơ đồ sau: Cơ sở vật chất Tổ chức Dịch Khách nội Nhân viên giao tiếp vụ hàng bộ dịch vụ Sơ đồ hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ Sự vận động của hệ thống là một quá trình hoạt động có định hướng để đạt tới một sự cân bằng nhất định và đạt được mục tiêu của cung ứng dịch vụ. Hệ thống sản xuất, cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố hữu hình và vô hình, các yếu tố vật chất và phi vật chất, tâm lý, tình cảm, tinh thần đan xen vào nhau trong quá trình tạo ra dịch vụ. Để có được một hệ thống cung ứng dịch vụ hoàn chỉnh cần phải có các yếu tố chính đó là: Yếu tố cơ sở vật chất, môi trường vật chất, yếu tố người Luan van 13 cung ứng dịch vụ và yếu tố khách hàng. - Yếu tố cơ sở vật chất: Đây là yếu tố cần thiết cho việc sản xuất và cung ứng dịch vụ như các thiết bị, máy móc, nhà cửa, dụng cụ chuyên dùng…tác động trực tiếp đến hoạt động dịch vụ.
Yếu tố cơ sở vật chất là căn cứ để khách hàng đánh giá về chất lượng dịch vụ được cung ứng. Thông qua cơ sở vật chất của hệ thống dịch vụ mà khách hàng nhận thức, đánh giá và cảm nhận tốt hơn về dịch vụ. - Yếu tố môi trường vật chất: Bao gồm các yếu tố vật chất xung quanh nơi diễn ra các hoạt động dịch vụ; hệ thống các yếu tố vật chất trực tiếp tác động vào dịch vụ và những yếu tố gián tiếp tác động vào dịch vụ do quá trình tiêu dùng dịch vụ xuất hiện. Chẳng hạn như việc bố trí phòng, nội thất, ánh sáng, con người, trang phục, mùi vị…Một số đặc tính trong môi trường vật chất được khách hàng rất quan tâm và thông qua đó để đánh giá cho chất lượng của dịch vụ.
Để khách hàng tiêu dùng dịch vụ có hiệu quả thì việc cung ứng dịch vụ không thể không quan tâm đến những đặc tính này, nó có thể được coi là một phần của sản phẩm dịch vụ. - Yếu tố người cung ứng dịch vụ: Yếu tố này bao gồm toàn bộ đội ngũ cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp dịch vụ; bao gồm: đội ngũ làm việc trực tiếp và đội ngũ làm việc gián tiếp. Đội ngũ làm việc trực tiếp là những người giao tiếp, tiếp xúc với khách hàng, đó là những thành viên ở ngoại vi ở của một tổ chức doanh nghiệp dịch vụ. Nhờ họ tiếp xúc với khách hàng trong việc chuyển giao dịch vụ mà tạo nên những mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng.
Do vậy đội ngũ này được gọi là các liên kết biên nối doanh nghiệp với môi trường bên ngoài. Đội ngũ làm việc gián tiếp là những người không trực tiếp cung ứng dịch vụ chủ yếu song họ có thể thực hiện các công việc bổ trợ, thực hiện công tác quản lý trong doanh nghiệp. Những cán bộ làm công tác quản lý bao gồm Luan van 14 giám đốc, các trợ lý giúp việc ở các phòng ban, họ không trực tiếp giao tiếp với khách hàng, họ có quan hệ tới marketing thể chế của doanh nghiệp. Họ là những người giữ chức vụ và thực hiện vận hành toàn bộ guồng máy của doanh nghiệp, trực tiếp điều chỉnh những sáng tạo trong cung ứng dịch vụ để cung cấp các dịch vụ khác nhau cho nhiều nhóm khách hàng khác nhau.
- Yếu tố khách hàng: Đây là yếu tố đánh giá hoạt động cung ứng dịch vụ có hiệu quả hay không, nếu không có khách hàng thì sẽ không có dịch vụ. Khách hàng nó gắn liền với hệ thống và trở thành một yếu tố quan trọng của hệ thống. Khách hàng trực tiếp tiêu dùng dịch vụ của nhân viên cung ứng. Chất lượng dịch vụ được khách hàng cảm nhận và đánh giá.