Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về phát triển đào tạo nghề 1.1 Cơ sở pháp lý - Theo Luật Giáo dục năm 1998: Dạy nghề là một bộ phận thuộc giáo dục nghề nghiệp, gồm: Dạy nghề ngắn hạn (dưới 1 năm) được thực hiện tại các trung tâm dạy nghề và các trường dạy nghề, trường trung học và cao đẳng có dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề ngắn hạn, học viên được cấp chứng chỉ nghề; dạy nghề dài hạn (từ 1-3 năm) được thực hiện trong các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp và trường cao đẳng có dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề dài hạn, học viên được cấp bằng nghề.
Khung trình độ dạy nghề năm 1998 có hạn chế là: Chưa đủ khả năng đáp ứng các loại trình độ lao động, nhất là ở cấp trình độ cao theo yêu cầu của kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất - kinh doanh; Không có giá trị công nhận quá trình học trước đó, do đó không tạo được sự liên thông trong đào tạo. + Luật Giáo dục 2005 và Luật dạy nghề 2006 đã tạo cơ sở pháp lý hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành trong hệ thống giáo dục quốc dân; đã hình thành dạy nghề chính quy với 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề) và dạy nghề thường xuyên thay thế cho dạy nghề trước đây chỉ bao gồm dạy nghề ngắn hạn và dài hạn. Luật Giáo dục năm 2005 quy định dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp và trình độ cao đẳng. Luật dạy nghề năm 2006 đã cụ 9 thể hóa cấp trình độ đào tạo trong dạy nghề gồm: Sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề, mục tiêu cụ thể của từng cấp trình độ là: Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây rất quan tâm đến công tác đào tạo nghề.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 - 2015 trong đó chỉ rõ (tỷ lệ qua đạo tạo đến năm 2020 là 35%). Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Thông báo số 784-TB/TU ngày 19/03/2008 của Tỉnh ủy Ninh Bình về việc thực hiện Đề án đào tạo nghề đến năm 2010, định hướng đến năm 2015. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra chủ trương phát triển dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là: "Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện.
Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: Dạy nghề ngoài công lập, tại Doanh nghiệp, tại làng nghề …; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp. Tổ chức dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số". "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục".
10 "Mở rộng quy mô dạy nghề, bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đại học, cao đẳng. Quy mô tuyển sinh dạy nghề dài hạn tăng 17%/năm". Thể chất hoá chủ trương của Đảng về phát triển dạy nghề, Quốc hội đã ban hành Luật Giáo dục - năm 2005, quy định dạy nghề có ba trình độ đào tạo (sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề); Luật Dạy nghề - năm 2006, quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động của cơ sở dạy nghề; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dạy nghề. Trong Luật Dạy nghề đã xác định chính sách đầu tư của Nhà nước về phát triển dạy nghề: "Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hoá thiết bị, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề; Tập trung xây dựng một số cơ sở dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới; chú trọng phát triển dạy nghề ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu, nhưng khó khăn thực hiện xã hội hoá".
- Nghị quyết số 03/2007/NQ - CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2007 đã giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng trình Chính phủ đề án đổi mới đào tạo nghề.2 Vị trí, vai trò của dạy nghề trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia Ngày nay, hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định nhất đến sự phát triển và bền vững của một quốc gia. Các nhà kinh tế đã khẳng định rằng đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục và 11 đào tạo, chăm sóc sức khỏe, công tác an sinh xã hội là đầu tư có hiệu quả nhất, quyết định đến khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của đất nước. Nhờ có ưu tiên đầu tư cho giáo dục để phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước trên thế giới chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước phát triển, điển hình là các nước Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan … Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững". Phát triển giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu (1).
Mục tiêu của giáo dục đào tạo nguồn nhân lực nói chung là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, đạo đức, tri thức, sức khỏe, tác phong công nghiệp, thể chất, thẩm mỹ, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất và dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương ứng với cấp trình độ đào tạo, đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và có thể tiếp tục học bổ sung, nâng cấp trình độ lên cao nếu có nhu cầu và điều kiện. Hiện nay, lao động kỹ thuật của Việt Nam đang mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu lao động ở cả ngành nghề và trình độ đào tạo trong các ngành, vùng kinh tế, các khu vực. Trong khi lao động phổ thông dư thừa rất lớn nhưng lao động kỹ thuật lại thiếu trầm trọng, nhất là lao động kỹ thuật trình độ cao cho một số ngành như công nghiệp chế tác, tin học, viễn thông, công nghiệp chế biến nông, lâm thủy sản, lao động kỹ thuật cho xuất khẩu.
12 Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, để tăng trưởng nền kinh tế bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả và an toàn trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động, nhiệm vụ của dạy nghề là phải xây dựng và phát triển đội ngũ lao động có chất lượng, phù hợp với nhu cầu lao động về cả số lượng, cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi toàn quốc lẫn từng ngành, vùng kinh tế, địa phương; đồng thời cần tăng khả năng cạnh canh của lao động Việt Nam với lao động nước ngoài không những ở thị trường lao động thế giới mà còn ngay ở thị trường lao động trong nước. Với tốc độ phát triển nhanh và không ngừng của khoa học công nghệ, việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới xuất hiện trong thực tế xã hội, vì vậy cần có các hình thức, nội dung dạy nghề phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để thường xuyên bổ sung, cập nhất kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để có đủ năng lực thích ứng với những thay đổi nhanh trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.1 Mối quan hệ của dạy nghề với việc làm, thu nhập và giải quyết các vấn đề xã hội trong nước và hội nhập quốc tế Mục tiêu hàng đầu của công tác dạy nghề là đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp của từng người học, người lao động cho phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nhằm tạo điều kiện cho người lao động tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm. Trong quá trình học nghề, người lao động được học để hình thành những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động nghề nghiệp cần thiết cho việc thực hiện thành công quá trình lao động thực tế. Với quan điểm, chuyển dần dạy nghề từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề sang dạy nghề theo nhu cầu của thị trường lao động và xã hội, lấy nhu cầu của các ngành kinh tế, của doanh nghiệp làm mục tiêu đào 13 tạo, dạy nghề gắn với việc làm đã tạo điều kiện cho người học nghề có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.