mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận chung về phát triển chợ truyền thống Chƣơng 2. Thực trạng phát triển và quản lý chợ tại thành phố Đà Nẵng Chƣơng 3. Phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển chợ truyền thống tại Đà Nẵng 6.
Tổng quan nghiên cứu Có nhiều nghiên cứu khác nhau về chợ truyển thống và phát triển chợ truyền thống ở Việt Nam. Mỗi nghiên cứu tùy theo mục tiêu và chủ đề quan tâm mà tập trung vào giải quyết chúng. Dƣới đây xin đƣa ra một số nghiên cứu làm cơ sở cho đề tài. Trong nghiên cứu của Lê Thị Mai (2002) về Chợ nông thôn Châu thổ sông Hồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế-xã hội thời kỳ đổi mới đã khẳng định vai trò của chợ truyền thống không chỉ là nhân tố tác động tới phát Luan van 4 triển kinh tế xã hội ở nông thôn mà còn tạo ra những chuyển biến xã hội.
Tác giả cũng đã khẳng định cần phải duy trì và phát triển loại hình này nhƣng cần có lộ trình và các giải pháp thích hợp với từng vùng nhất là khu vực nông thôn. Tuy chỉ đề cập tới chợ nông thôn nhƣng nghiên cứu này cũng hữu ích cho nghiên cứu phát triển chợ truyền thống ở khu vực nông thôn của địa phƣơng. Thao Hà Anh (2013) trong bài viết “Chợ truyền thống: Nâng cấp, nâng hiệu quả” đã khẳng định vai trò và sự cần thiết phải phát triển loại hình thƣơng mại này trong điều kiện Việt Nam. Hiện nay ở Việt Nam theo tác giả với vai trò là kênh phân phối khoảng 40% lƣợng hàng hóa, nâng cấp chợ truyền thống sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lƣu thông hàng hóa tại thị trƣờng nội địa.
Theo thống kê của Bộ Công Thƣơng, từ năm 2003 đến cuối năm 2012, cả nƣớc đã cải tạo nâng cấp đƣợc 2.984 chợ các loại; Xây mới 2.006 chợ, nâng tổng số chợ cả nƣớc lên 8. Số chợ đạt hiệu quả chiếm khoảng 97%. Ngoài hiệu quả kinh tế, chợ truyền thống còn là nơi giải quyết công ăn việc làm cho một lƣợng lớn lao động, đặc biệt là lao động nông thôn. Cũng theo thống kê của Bộ Công Thƣơng, chợ truyền thống hiện đang tạo công ăn việc làm cho khoảng hai triệu thƣơng nhân buôn bán tại chợ.
Riêng các chợ ở khu vực nông thôn, số lƣợng ngƣời bán thƣờng xuyên cố định chiếm khoảng 47%. Tác giả đã chỉ ra những vấn đề của chợ truyền thống hiện nay đó là (i) tình trạng xuống cấp của cơ sở hạ tầng với 28% số chợ vẫn ở trong tình trạng lều lán, tạm bợ; thậm chí có tới 15% số chợ còn họp ngoài trời; (ii) Nạn hàng nhái, hàng giả, mất vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là một đặc điểm khá nhức nhối đã tồn tại khá lâu trong các khu chợ truyền thống; (iii) Tình trạng tự phát không tuân thủ quy hoạch gây ra không ít khó khăn trong quản lý. Để phát triển theo tác giả (i) Thực hiện quy hoạch và quản lý quy hoạch Luan van 5 phát triển chợ, Các khu chợ nằm trong quy hoạch nhƣng không mang lại hiệu quả sẽ đƣợc đánh giá lại, chuyển đổi để có hƣớng đi thích hợp với từng vùng và địa phƣơng; (ii) Việc nâng cấp và phát triển chợ sẽ tiếp tục đƣợc thực hiện bằng hình thức kêu gọi xã hội hóa, tạo điều kiện cho các nhà đầu tƣ tƣ nhân; (iii) Các địa phƣơng cũng cam kết sẽ tạo điều kiện tối đa cho các dự án chợ của nhà đầu tƣ tƣ nhân. Theo Báo Hà nội mới (2012) muốn phát triển chợ truyền thống thì cần (i) Nâng cấp, sửa chữa cơ sở hạ tầng tại chợ phù hợp, bảo đảm sự đi lại thông thoáng, mua bán thuận tiện; (ii) Tăng cƣờng quản lý, kiểm tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm; xây dựng văn hóa kinh doanh văn minh, lịch sự.
(iii) cần nâng cao năng lực của ban quản lý chợ hiện có và có hƣớng chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh, quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động. Trong hội thảo “Mô hình tổ chức, quản lý chợ truyền thống trong đô thị ở Việt Nam” tổ chức ngày 22-6-2012, đại diện Vụ thị trƣờng Bộ thƣơng mại cho rằng cần phát triển chợ truyền thống theo mô hình doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ vì những lý do (i) Năng động hơn, có khả năng huy động đƣợc nhiều nguồn lực để phát triển và quản lý chợ (kể cả nguồn lực tài chính để xây dựng, cải tạo, nâng cấp chợ); (ii) Quản lý và kinh doanh chợ có hiệu quả hơn do có cơ cấu tổ chức phù hợp với hoạt động kinh doanh và đội ngũ cán bộ nhân viên nhìn chung có trình độ nghiệp vụ và quản lý cao hơn so với nhân viên của các Ban quản lý chợ do phần lớn đƣợc đào tạo qua trƣờng lớp và có nhiều kinh nghiệm hơn trong hoạt động kinh doanh; (iii) Giảm bớt đƣợc gánh nặng cho Nhà nƣớc vì không phải tăng biên chế, quỹ lƣơng cho lực lƣợng cán bộ tham gia quản lý chợ; qua hoạt động kinh doanh, nguồn thu của doanh nghiệp cao hơn, có khả năng tích lũy, tái đầu tƣ vào con ngƣời và các công trình phục vụ chợ cũng nhƣ đóng góp cho ngân sách nhà nƣớc; (iv) Luan van 6 Có điều kiện thực hiện tốt hơn công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trƣờng, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy và văn minh thƣơng mại. Với những ƣu thể nhƣ vậy việc lựa chọn và phát triển mô hình này sẽ rất phù hợp với Việt Nam. Theo Xuân Huy (2014) để phát triển hệ thống thƣơng mại nói chung và hệ thống chợ truyền thống cần phải đầu tƣ phát triển kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật cho thƣơng mại trong nƣớc.
Kết hợp hài hòa giữa hệ thống chợ truyền thống và chợ hiện đại. Phát triển các trung tâm thu thập, dự báo và cung ứng dịch vụ thông tin thƣơng mại. Mở rộng áp dụng hình thức hợp tác công tƣ (PPP) trong xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực thƣơng mại. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHỢ TRUYỀN THỐNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỢ TRUYỀN THỐNG 1.1 Khái niệm về chợ truyền thống a. Khái niệm về chợ Theo định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt đang đƣợc lƣu hành: "Chợ là nơi công cộng để đông ngƣời đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định" Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Từ điển Bách Khoa - 2003 (tr.138) (2) Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Văn hoá Thông tin - 2004 (tr.155) "Chợ là nơi tụ họp giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên). Theo khái niệm thƣờng dùng trong lĩnh vực thƣơng mại: chợ là loại hình thƣơng nghiệp phát triển khá phổ biến ở nƣớc ta; chợ là hiện thân của hoạt động thƣơng mại, là sự tồn tại của không gian thị trƣờng mỗi vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng biên giới và tập trung nhiều nhất ở các vùng đô thị các thành phố lớn. Khái niệm về chợ truyền thống Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ : Chợ là loại hình kinh doanh thƣơng mại đƣợc hình thành và phát triển mang tính truyền thống, đƣợc tổ chức tại một điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cƣ.
Phạm vi chợ: là khu vực kinh doanh dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (nhƣ: bãi để xe, kho Luan van 8 hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đƣờng bao quanh chợ. Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu, thu hút, tập trung lƣợng hàng hóa từ các nguồn, sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lƣu thông khác. Chợ kiên cố: là chợ đƣợc xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm. Chợ bán kiên cố: là chợ đƣợc xây dựng đảm bảo có thời gian sử dụng từ 5 năm đến 10 năm.
Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng đƣợc bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3m2/điểm. Như vậy chợ truyền thống là khái niệm để chỉ một loại hình kinh doanh được phát triển dựa trên những hoạt động thương mại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa- dịch vụ được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư. Phân loại chợ truyền thống - Phân loại chợ theo số lƣợng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ: Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ, có các loại chợ nhƣ sau : - Loại 1: là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, đƣợc đầu tƣ xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch; đƣợc đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thƣơng mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và đƣợc tổ chức thƣờng xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo Luan van 9 lƣờng, dịch vụ kiểm tra chất lƣợng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác. - Loại 2: là chợ có trên 200 điểm kinh doanh (*), đƣợc đầu tƣ xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; đƣợc đặt ở trung tâm giao lƣu kinh tế của khu vực và đƣợc tổ chức họp thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lƣờng.
- Loại 3: là các chợ dƣới 200 điểm kinh doanh (*) hoặc các chợ chƣa đƣợc đầu tƣ xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố; chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phƣờng và địa điểm phụ cận.