Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức tại thành phố Sơn La

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức tại thành phố Sơn La, nâng cao sức khỏe và hiệu suất làm việc.

Trường đại học

Hà Nội

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

176
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác thể dục thể thao trong thời kỳ đổi mới

1.2. Một số cơ sở lý luận về xã hội hóa và xã hội hóa thể dục thể thao

1.3. Đặc điểm và hình thức hoạt động câu lạc bộ thể dục thể thao cơ sở

1.4. Những yếu tố bảo đảm cho công tác thể dục thể thao trong các cơ quan hành chính nhà nước

1.5. Đặc điểm hoạt động của môn Cầu lông

1.6. Đặc điểm kỹ thuật đánh cầu

1.7. Quy luật bay của cầu trong không gian

1.8. Cơ sở sinh lý của hoạt động tập luyện và thi đấu Cầu lông

1.9. Cơ sở lý luận về giải pháp

1.10. Quy hoạch và giải pháp phát triển môn Cầu lông

1.11. Quy hoạch phát triển môn Cầu lông

1.12. Giải pháp phát triển môn Cầu lông

1.13. Những công trình nghiên cứu có liên quan

1.13.1. Các công trình nghiên cứu trong nước

1.13.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.14. Kết luận chương

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Khách thể nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

2.3.2. Phương pháp phỏng vấn

2.3.3. Phương pháp quan sát sư phạm

2.3.4. Phương pháp điều tra xã hội học

2.3.5. Phương pháp phân tích SWOT

2.3.6. Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.3.7. Phương pháp kiểm chứng giải pháp

2.3.8. Phương pháp toán học thống kê

2.4. Tổ chức nghiên cứu

2.4.1. Phạm vi nghiên cứu

2.4.2. Thời gian nghiên cứu

2.4.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4.4. Cơ quan phối hợp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng phong trào Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.1. Xác định các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá phong trào Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.2. Thực trạng sự quan tâm của lãnh đạo các cấp đối với hoạt động tập luyện và thi đấu Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.3. Thực trạng nhu cầu, động cơ và hứng thú tập luyện Cầu lông của đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.4. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện và thi đấu Cầu lông của đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.5. Thực trạng đội ngũ huấn luyện viên, cộng tác viên phục vụ tập luyện và thi đấu Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.6. Thực trạng tổ chức tập luyện và thi đấu Cầu lông của đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.7. Thực trạng trình độ thể lực chung của đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.8. Những khó khăn trong việc phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.9. Kết quả phân tích SWOT về việc phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.10. Kiểm định phân tích SWOT về việc phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.1.11. Bàn luận về thực trạng phong trào Cầu lông trong đội ngũ công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.2. Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các giải pháp phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.2.1. Các nguyên tắc lựa chọn giải pháp

3.2.2. Lựa chọn giải pháp phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.2.3. Ứng dụng và kiểm chứng các giải pháp phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La

3.2.4. Bàn luận về việc lựa chọn và ứng dụng giải pháp phát triển môn Cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cầu lông và vai trò của nó trong phát triển thể thao

Cầu lông là một môn thể thao phổ biến, không chỉ giúp nâng cao sức khỏe mà còn tạo ra môi trường giao lưu, kết nối giữa các công chức. Cầu lông có nhiều lợi ích cho sức khỏe như cải thiện thể lực, tăng cường sức bền và linh hoạt. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, việc phát triển thể thao cho công chức là rất cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả công việc. Các hoạt động thể thao như cầu lông không chỉ giúp giảm stress mà còn tạo ra sự đoàn kết trong đội ngũ công chức. Theo nghiên cứu, việc tham gia vào các hoạt động thể thao có thể làm tăng năng suất làm việc và cải thiện tâm lý của người lao động.

II. Thực trạng phong trào cầu lông tại Sơn La

Phong trào cầu lông tại Sơn La đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Theo khảo sát, số lượng công chức tham gia tập luyện cầu lông còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở các khu vực trung tâm. Điều này dẫn đến sự chênh lệch trong việc tiếp cận và tham gia các hoạt động thể thao giữa các khu vực. Hơn nữa, cơ sở vật chất phục vụ cho việc tập luyện cầu lông còn thiếu thốn, đặc biệt là ở các huyện xa trung tâm. Việc thiếu kinh phí và chính sách hỗ trợ cũng là một trong những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển của phong trào này.

III. Các giải pháp phát triển cầu lông cho công chức tại Sơn La

Để phát triển cầu lông cho công chức tại Sơn La, cần có một chiến lược đồng bộ và hiệu quả. Một số giải pháp có thể được áp dụng bao gồm: Tổ chức các sự kiện thể thao thường xuyên để khuyến khích sự tham gia của công chức, xây dựng các câu lạc bộ cầu lông tại các cơ quan, và tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chất. Ngoài ra, việc đào tạo huấn luyện viêncộng tác viên cũng rất quan trọng để nâng cao chất lượng tập luyện. Các chương trình tập huấn và thi đấu cũng cần được tổ chức thường xuyên để tạo động lực cho công chức tham gia.

IV. Đánh giá hiệu quả của các giải pháp

Việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp phát triển cầu lông cho công chức tại Sơn La là rất cần thiết. Các chỉ số như số lượng người tham gia, tần suất tập luyện và thành tích trong các giải đấu sẽ là những tiêu chí quan trọng để đánh giá. Hơn nữa, việc khảo sát ý kiến của công chức về các hoạt động thể thao cũng sẽ giúp điều chỉnh và cải thiện các chương trình phát triển. Sự tham gia tích cực của công chức không chỉ nâng cao sức khỏe mà còn góp phần xây dựng một môi trường làm việc tích cực và hiệu quả.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức thành phố sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác thể dục thể thao trong thời kỳ đổi mới Trong thời kỳ đổi mới bắt đầu từ nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác TDTT tiếp tục được khẳng định vì nhân tố con người. Con người vừa làm động lực, vừa là mục tiêu xã hội. Đồng Chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhấn mạnh quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về sự nghiệp phát triển TDTT trong thời kỳ đổi mới: “Chăm lo phát triển sự nghiệp TDTT, coi đó là biện pháp hàng đầu để tăng cường sức khoẻ, nâng cao khả năng đề kháng của cơ thể với bệnh tật”.

Ngày 09/5/1989 Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 112/CT về “Công tác TDTT trong những năm trước mắt”. Điểm mới quan trọng và sự nổi bật của chỉ thị là yêu cầu phải đổi mới về phương thức hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về TDTT theo hướng tập trung thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Xây dựng và củng cố các tổ chức xã hội về TDTT theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự đảm bảo về tài chính và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật; Bổ sung các chế độ chính sách, chế độ đối với huấn luyện viên, vận động viên và giáo viên dạy TDTT, khuyến khích các tổ chức TDTT tham gia hoạt động kinh tế, tạo thêm nguồn tài chính để đảm bảo và phát triển sự nghiệp TDTT, mở rộng hợp tác quốc tế về TDTT. Chỉ thị này được coi như tiền đề của Nghị định 73/NĐ-CP về xã hội hoá các hoạt động TDTT trong xã hội [20].

Đại hội Đảng lần thứ VII đã bổ sung và phát triển các chủ trương đổi mới của Đại hội VI và đã thông qua “ Cương lĩnh ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000”. Về TDTT nghị quyết Đại hội VI đã nhấn mạnh một số điểm: Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học, tổ chức, hướng dẫn đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia rèn luyện thân thể hàng luan an 7 ngày. Nâng cao chất lượng các cơ sở bồi dưỡng, đào tạo VĐV, nâng cao thành tích của một số môn thể thao. Cải tiến tổ chức quản lý các hoạt động TDTT theo hướng kết hợp chặt trẽ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội, Tạo điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật để phát triển nhanh một số môn thể thao Việt Nam có truyền thống và có triển vọng.

Nhằm cụ thể hoá nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ngày 24/3/1994 Ban Bí Thư Trung Ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 36 CT-TW “Về công tác thể thao trong giai đoạn mới”, và Pháp lệnh thể dục, thể thao, ngày 25/9/2000 chỉ thị đã nêu ra các quan điểm và mục tiêu của công tác TDTT trong giai đoạn mới. Quan điểm định hướng cho phát triển sự nghiệp TDTT trong thời kỳ đổi mới được xác định là [48]: Phát triển TDTT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy yếu tố con người; công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh; Làm phong phú đời sống văn hoá - tinh thần của nhân dân, nâng cao năng xuất lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang; Xây dựng nền TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, giữ gìn phát huy bản sắc và truyền thống dân tộc, đồng thời nhanh chóng tiếp thu chọn lọc những thành tựu hiện đại. Phát triển rộng rãi phong trào TDTT quần chúng với khẩu hiệu “khoẻ để xây dựng và bảo vệ tổ quốc”, từng bước xây dựng lực lượng thể thao chuyên nghiệp đỉnh cao; Phát triển TDTT là trách nhiệm của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, trong đó ngành TDTT giữ vai trò nòng cốt. Từng bước xã hội hoá tổ chức hoạt động TDTT dưới sự quản lý điều hành của nhà nước một cách thống nhất từ Trung ương đến địa phương; Mở rộng giao lưu, học hỏi và hợp tác quốc tế đa phương diện về lĩnh vực TDTT, trên cơ sở các môn TDTT truyền thống, duy trì chọn lọc và ứng dụng khoa học tiên tiến của các nước trên thế giới để phát triển ngành TDTT nước luan an 8 nhà; Tăng cường mối tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân ta và nhân dân các nước.

Chỉ thị 36/CP-TW đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, vì đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, làm chuyển biến nhận thức về TDTT của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền, cán bộ đảng viên và một bộ phận nhân dân. Mặt khác, việc thực hiện chỉ thị này đã được cụ thể hoá quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị 133/CT-TTg ngày 07/3/1995 và Chỉ thị 274/CT-TTg ra ngày 27/4/1996 của thủ tướng chính phủ về xây dựng quy hoạch phát triển ngành TDTT và quy hoạch sử dụng đất đai, phục vụ sự nghiệp phát triển TDTT [21], [22]. Chỉ thị 112/CT ra ngày 09/05/1989 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng về công tác TDTT trong những năm trước mắt được thể hiện ở 5 nội dung sau: Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh các trường học, duy trì và phát triển phong trào TDTT trong lực lượng vũ trang, trong công nhân viên chức và trong nhân dân. Mở rộng các cơ sở đào tạo VĐV, tập chung sức nâng cao thành tích một số môn thể thao.

Tổ chức đại hội thể thao các cấp và đại hội TDTT toàn quốc, cải tiến việc chỉ đạo các hoạt động thi đấu thể thao. Đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý các hoạt động TDTT. Mở rộng hợp tác quốc tế về lĩnh vực TDTT. Đại hội VIII của Đảng đã đề ra đường lối phát triển đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Về nhiệm vụ TDTT, nghị quyết đại hội đã chỉ rõ và cụ thể hơn về phát triển TDTT quần chúng và giáo dục thể chất (Thể thao nhà trường) đó là: Phát triển phong trào TDTT sâu rộng trong cả nước, trước hết là thanh thiếu niên, tạo sự chuyển biến tích cực về chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất trong trường học, trong các lực lượng dự bị quốc phòng và lực lượng vũ trang. Về mở rộng quan hệ quốc tế về TDTT. luan an 9 Từng bước hình thành lực lượng TDTT chuyên nghiệp để phát huy những thành quả đã đạt được sau 3 năm thực hiện CT 36/CT-TW và khắc phục những mặt còn hạn chế. Thường vụ Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) đã ban hành Thông tư số 03/TT-TW ra ngày 02/4/1998 về tăng cường các cấp Uỷ và tổ chức Đảng đối với sự nghiệp phát triển TDTT [3].

Trong nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản tiếp tục khẳng định các quan điểm nhất quán của Đảng về công tác TDTT, làm rõ chiến lược phát triển TDTT trong giai đoạn 2001 - 2010 với các nội dung [5]: Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc con người Việt Nam. Phát triển TDTT quần chúng và mạng lưới cơ sở rộng khắp. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ VĐV thể thao thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình độ trung trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều bộ môn; Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực có hiệu quả trong các hoạt động văn hoá thể thao; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và bảo trợ các hoạt động văn hoá - thể thao phát triển thị trường và các sản phẩm dịch vụ văn hoá - thể thao phong phú lành mạnh; Tăng cường đầu tư ngân sách cho TDTT xây dựng trung tâm thể thao quốc gia và các trung tâm đào tạo thể thao ngang tầm khu vực; Mở rộng giao lưu thể thao quốc tế. Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các kỳ Đại hội Đảng gần đây là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, và lần thứ IX có những quyết sách mang tính đột phá và thích hợp với thực tiễn của xu thế phát triển đất nước [4],[5], Các Chỉ thị 133/TTg ra ngày 07/3/1995 về quy hoạch phát triển TDTT [21]; Chỉ thị 274/TTg 27/4/1996 về quy hoạch và sử dụng đất đai phục vụ sự nghiệp TDTT [22], ngày 23/10/2002 Ban Bí Thư Trung Ương Đảng (khoá IX) đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TW về phát triển TDTT đến năm 2010.

Chỉ thị đã đánh giá những mặt mạnh, và những tồn tại sau 8 năm thực hiện Chỉ thị 36CT-TW và luan an 10 Chỉ thị số 17/CT-TW đề ra 8 nhiệm vụ chiến lược cần giải quyết nhằm phát triển TDTT. Đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế [5]. Lịch sử phát triển TDTT Việt Nam đã có Pháp lệnh TDTT được Thường Vụ Quốc Hội khoá X thông qua ngày 25/9/2000, [48] Pháp lệnh TDTT là văn bản luật đầu tiên trong lĩnh vực TDTT Việt Nam và hướng tới Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua “Luật về TDTT”. Cho đến Quốc hội (2006), Luật Thể dục, Thể thao số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2006 đã được ban hành và sủa đổi; Đến Quốc hội (2018), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao số 26/2018/QH14 ngày 14/6/2018 [50], [51].

Ngày 18/4/2005, Chính phủ đã có Nghị quyết số 05/2005/ NQ-CP về “Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và TDTT” [23]. Trên cơ sở dó, ngày 10/5/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 100/2005/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển TDTT ở xã, phường, thị trấn đến năm 2010 với mục tiêu [24]: Mở rộng và nâng cao hiệu quả phong trào TDTT quần chúng tại các xã, phường, thị trấn trong cả nước; huy động sức mạnh của toàn xã hội chăm lo giáo dục thể chất cho nhân dân, làm cho mỗi người dân ở xã, phường, thị trấn được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa thể thao nhằm tăng cường sức khỏe, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí tuệ và thể chất, phục vụ lao động sản xuất, công tác, học tập; góp phần ổn định, giữ gìn an ninh chính trị và đẩy lùi các tệ nạn xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức tại thành phố Sơn La" của tác giả Đặng Hoàng Anh, dưới sự hướng dẫn của TS. Lưu Quang Hiệp và TS. Đặng Văn Dũng, tập trung vào việc tìm kiếm các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng và sự phát triển của môn cầu lông trong cộng đồng công chức viên chức tại Sơn La. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của môn thể thao này mà còn đề xuất các phương pháp cụ thể để khuyến khích sự tham gia và phát triển kỹ năng cho người chơi. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho sức khỏe cá nhân mà còn góp phần xây dựng một môi trường làm việc năng động và gắn kết hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và phát triển thể thao trong môi trường học đường, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại các trường tiểu học huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, nơi nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học, hay Nghiên cứu xây dựng chương trình thể thao tự chọn cho sinh viên tại đại học Quốc gia TP.HCM, bài viết này đề cập đến việc phát triển chương trình thể thao cho sinh viên, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về việc phát triển thể thao trong giáo dục. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ về quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội, để thấy được sự quan trọng của hoạt động thể chất trong giáo dục mầm non. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về các khía cạnh khác nhau của giáo dục thể chất và quản lý giáo dục.