Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trên cơ sở tham khảo các lý thuyết liên quan tới sự cam kết với tổ chức, các nghiên cứu trong và ngoài nước về sự cam kết với tổ chức, tác giả đề xuất mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết của nhân viên với công ty TNHH Nội thất và Quảng cáo Á Đông. Chương 2: Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết của nhân viên với công ty TNHH Nội thất và Quảng cáo Á Đông: Trong chương 2, tác giả sẽ giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Nội thất và Quảng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cáo Á Đông, đồng thời trình bày về số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ nhân viên đang làm việc tại công ty. Bên cạnh đó, dựa trên kết quả khảo sát định tính và định lượng, tác giả đưa ra bức tranh toàn cảnh thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết của nhân viên với công ty TNHH Nội thất và Quảng cáo Á Đông, từ đó xác định yếu tố nào ảnh hưởng lớn nhất tới sự cam kết của nhân viên và xác định nguyên nhân của sự cam kết thấp. Chương 3: Đề xuất giải pháp: Trên cơ sở thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết thấp của nhân viên tác giả đề xuất các giải pháp khả thi giúp công ty TNHH Nội thất và Quảng cáo Á Đông hoàn thiện các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết của nhân viên.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ CAM KẾT CỦA NHÂN VIÊN VỚI TỔ CHỨC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về sự cam kết với tổ chức 1. Định nghĩa sự cam kết với tổ chức Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cam kết với tổ chức. Trong đó định nghĩa của Meyer & Allen và định nghĩa của Mowday & cộng sự là hai định nghĩa được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về cam kết tổ chức hiện nay (theo Trần Kim Dung, 2006).
Mowday và cộng sự (1979) chỉ ra sự cam kết với tổ chức như là sức mạnh đồng nhất của cá nhân với tổ chức và sự tích cực tham gia vào trong tổ chức. Đặc biệt cam kết với tổ chức được đặc trưng bởi ba nhân tố: (1) sự đồng nhất: có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu cùng các giá trị của tổ chức; (2) Cố gắng: tự nguyện cố gắng vì tổ chức; (3) Trung thành: ý định hoặc mong ước mạnh mẽ sẽ ở lại cùng tổ chức. Mowday và cộng sự đã phân biệt giữa thái độ cam kết và hành vi cam kết trong tổ chức. Ông cho rằng thái độ cam kết đề cập đến mối quan hệ của cá nhân đối với tổ chức.
Trong khi đó hành vi cam kết thể hiện bằng hành động “ngày càng gắn chặt với tổ chức” của họ. Mối liên hệ giữa thái độ cam kết và hành vi cam kết thể hiện mối quan hệ tương hỗ, trong đó thái độ dẫn đến hành vi, còn hành vi củng cố thêm thái độ (Mowday và cộng sự, 1982). Trong khi đó Meyer và Allen chỉ chú trọng vào trạng thái tâm lý của người lao động thông qua ba thành phần cam kết để mô tả mức độ cam kết của nhân viên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Theo Trần Kim Dung và cộng sự (2005) và Đỗ Thị Cát Trâm (2015) định nghĩa rằng: Cam kết với tổ chức (Organization commitment) còn gọi là sự cam kết của nhân viên đối với tổ chức hay ý thức gắn kết đối với tổ chức.
Như vậy, theo tác giả kết luận, sự cam kết của nhân viên với tổ chức là việc nhân viên sẵn sàng làm việc và gắn bó với tổ chức. Nhân viên có sự gắn kết với tổ chức thường sẽ có mục tiêu công việc rõ ràng, đầu tư công sức, thời gian và nỗ lực hết mình để thực hiện mục tiêu. Họ sẽ làm việc với trạng thái vui vẻ, hăng say trong công việc. Tầm quan trọng của cam kết với tổ chức Hiện nay cam kết là một vấn đề được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm bởi vì nó tạo nên sức mạnh giúp tổ chức vượt qua mọi khó khăn trong mọi hoạt động của mình.
Khi mức độ cam kết của nhân viên với tổ chức càng cao thì việc gắn kết mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức càng cao và khả năng xin thôi việc càng giảm đi. Theo Shuck and Wollard (2010) đã chỉ ra các hệ quả của mức độ cam kết cao đem lại những lợi ích sau: nhân viên làm việc hiệu quả hơn, lợi nhuận cao hơn, an toàn hơn, khỏe mạnh hơn, ít nghỉ việc, ít vắng mặt và nỗ lực nhiều hơn trong các hoạt động. Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Lý thuyết nhu cầu con người được phát triển bởi Abraham Maslow là một nền tảng quan trọng của lịch sử tư tưởng quản trị tiếp cận theo hành vi. Theo đó, nhu cầu cá nhân được phân thành 5 loại và thể hiện ở hai cấp bậc: Các nhu cầu bậc thấp bao gồm: nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội; và các nhu cầu bậc cao gồm: nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện.
Trong khi nhu cầu bậc thấp thể hiện các mong muốn được hoàn hảo về vật chất và xã hội cá nhân, thì nhu cầu bậc cao bao gồm các ước muốn phát triển và tăng trưởng về tâm lý. Maslow sử dụng hai nguyên tắc để mô tả cách thức các nhu cầu ảnh hưởng đến hành vi con người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Nguyên tắc chưa thỏa mãn (Deficit principle): Một nhu cầu đã thỏa mãn không còn là một tác nhân động viên vào hành vi. Con người được kỳ vọng sẽ hành động để thỏa mãn các nhu cầu chưa được đáp ứng hay còn ở tình trạng thiếu hụt.
Nguyên tắc tịnh tiến (Progression principle): Một nhu cầu ở một cấp sẽ không được kích hoạt cho đến khi nhu cầu ở cấp thấp ngay dưới đó được thỏa mãn. Con người được kỳ vọng sẽ tiến từng bước trên bậc thang để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nguyên tắc này kết thúc tại cấp bậc nhu cầu tự thể hiện, tại đây khi nhu cầu ở cấp bậc này được thỏa mãn càng nhiều thì con người càng tăng trưởng mạnh. Những yếu tố thỏa mãn nhu cầu bậc cao Nhu cầu tự thể hiện Công việc thay đổi và thách thức Tham gia trong việc ra quyết định Công việc linh hoạt và độc lập Nhu cầu được tôn trọng Công việc có trách nhiệm quan trọng Có sự thăng tiến cao Khen thưởng và thừa nhận từ người lãnh đạo Những yếu tố thỏa mãn nhu cầu bậc thấp Nhu cầu xã hội Đồng nghiệp thân thiện Tương tác với khách hàng Người giám sát dễ chịu Nhu cầu an toàn An toàn môi trường làm việc An toàn công việc An toàn lương và thưởng Nhu cầu sinh lý học Giờ làm việc hợp lý Sự tiện nghi vật chất trong công việc Nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng khi làm việc (Nguồn: Giáo trình quản trị học, Nhà xuất bản Kinh tế TP.1: Những cơ hội để thỏa mãn nhu cầu cá nhân theo A.1 minh họa các cách thức mà nhà quản trị sử dụng ý tưởng Maslow để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân viên dưới quyền.
Cần lưu ý rằng, nhu cầu tự thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 hiện trong nhu cầu bậc cao, nhà quản trị cần đáp ứng như công việc sáng tạo và thách thức, có tính độc lập cao, còn nhu cầu được tôn trọng cần thiết sự tôn trọng, trách nhiệm, phần thưởng và được thừa nhận. Sự thỏa mãn nhu cầu bậc thấp như nhu cầu xã hội, nhu cầu an toàn và nhu cầu sinh học đòi hỏi nhiều về điều kiện môi trường làm việc như tiền thưởng và tiền lương. Vận dụng thuyết nhu cầu của Maslow: để gia tăng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức thì người quản lý cần phải biết nhân viên của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào, từ đó có giải pháp thỏa mãn nhu cầu của người lao động, tăng sự gắn bó của người lao động nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu của tổ chức.G của Clayton Alderfer (1969) Một trong các nỗ lực hứa hẹn nhất xây dựng trên những phát hiện của Maslow là lý thuyết ERG được đề xuất bởi giáo sư Clayton Alderfer: Lý thuyết này chia năm nhu cầu của Maslow lại thành 3 nhóm: Nhu cầu tồn tại ( Existence needs): là ước muốn đáp ứng về sinh lý học và sự hoàn hảo về vật chất. Nhu cầu quan hệ (Relatedness needs): là ước muốn thỏa mãn các quan hệ tương tác giữa các cá nhân.
Nhu cầu phát triển (Growth needs): là ước muốn tăng trưởng và phát triển về tâm lý. Nhu cầu phát triển là nhu cầu bậc nhất trong bậc thang nhu cầu. Chúng ta có thể nhìn thấy điều nay qua ví dụ minh họa về những con người được động viên khi thực hiện các hoạt động tình nguyện và làm việc cho các tổ chức phi lợi nhuận. Lý thuyết ERG có một chút khác biệt so với tư tưởng của Maslow.
Thật vậy, lý thuyết ERG không giả định rằng nhu cầu nào đó phải được thỏa mãn trước khi nhu cầu khác kích hoạt hành vi của con người; và bất cứ một nhu cầu hay tất cả nhu cầu có thể tác động đến hành vi cá nhân ở một thời điểm nào đó, và nhu cầu đã thỏa mãn cũng không mất đi tính động viên của chúng. Lý thuyết ERG đưa ra nguyên tắc hồi quy mất tác dụng (frastructure-regression principle) theo đó một nhu cầu bậc thấp hơn đã thỏa mãn còn có thể được nhân viên mong muốn thỏa mãn tiếp và vẫn ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 hưởng đến hành vi khi một nhu cầu bậc cao chưa được thỏa mãn. Ví dụ, khi nghiệp đoàn lao động đại diện cho công nhân nhà máy thương lượng để đạt mục tiêu một tuần làm việc ít giờ hơn và điều kiện làm việc ít hơn (đáp ứng nhu cầu tồn tại), họ làm như vậy một phần do sự bất mãn của nhân viên với công việc đơn điệu nhàm chán (nhu cầu phát triển không thỏa mãn). Vận dụng thuyết EGR của Alderfer: để nâng cao sự gắn kết của nhân viên với tổ chức, các nhà quản lý cần quan tâm đến các nhu cầu của nhân viên là gì? Nhu cầu nào đã được thỏa mãn? Nhu cầu chưa được thỏa mãn tiếp theo là gì? Có nhu cầu nào làm nản lòng nhân viên không? Và làm sao để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn? 1.