CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. Tổng quan về NHTM 1. Khái niệm NH và NHTM [10, 4] NH đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, nhưng cho đến nay vẫn có nhiều cách định nghĩa về NH, sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do các NH luôn phát triển thêm các dịch vụ của mình; mặt khác mỗi cách định nghĩa đứng trên những góc độ khác nhau. Theo luật pháp nước Mỹ thì: “bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một NH”.
Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, tại khoản 2 điều 20 có định nghĩa về NH như sau: “NH là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, NH gồm: NH thương mại, NH phát triển, NH, NH chính sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác”. Từ những cách định nghĩa khác nhau trên về NH, có thể rút ra NH là một trong những định chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Thông qua các nghiệp vụ cơ bản trên, NH còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
NHTM là một loại hình NH mới xuất hiện tại Việt Nam vào đầu thập niên 1990. Pháp lệnh NH, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính đã định nghĩa HV: Nguyễn Đức Minh 3 Khoa Kinh Tế & Quản Lý CH Khoá 2006-2008 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN NHTM như sau: ”NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Như vậy, NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, làm cầu nối giữa người cho vay và người đi vay, thông qua đó kiếm lợi nhuận cho mình. Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế [10, 11] Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống NHTM được coi như “hệ tuần hoàn” của nền kinh tế.
Qua hệ thống NHTM, các luồng vốn chảy đến những nơi cần nó, đáp ứng nhu cầu đầu tư, sản xuất và lưu thông hàng hóa của toàn xã hội. Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững thì không thể thiếu một hệ thống NHTM vững chắc, phát triển rộng khắp. Do vậy, có thể coi sự phát triển của hệ thống NH là đại diện cho sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia. NH cung cấp vốn cho nền kinh tế Nền kinh tế muốn phát triển luôn cần tới nguồn vốn nhằm giải phóng và thúc đẩy các nguồn lực trong xã hội.
Và các NHTM là nơi cung cấp nguồn vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có nhu cầu về vốn. Nhờ có hệ thống NHTM mà các doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức mới tiếp cận được với các khoản tín dụng một cách dễ dàng hơn, qua đó huy động được những nguồn lực cần thiết để giải phóng sức lao động, mở rộng sản xuất kinh doanh, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. NH tạo môi trường đầu tư cho cá nhân, tổ chức trong xã hội Để có được nguồn tín dụng cho các đối tượng có nhu cầu, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức trong xã hội. Qua đó, các NHTM cũng đem đến cho người dân các phương tiện đầu tư có độ rủi ro thấp như: gửi tiết kiệm, mua trái phiếu, …với nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng một phần nhu cầu bảo quản và làm tăng giá trị các khoản vốn nhàn rỗi của người dân.
Các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế có thêm được nhiều các hình thức đầu tư an toàn, tiện lợi cho số vốn của mình. HV: Nguyễn Đức Minh 4 Khoa Kinh Tế & Quản Lý CH Khoá 2006-2008 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN 1. NH là phương tiện điều tiết nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách. Thông qua hệ thống NHTM, Nhà nước tác động điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ như lãi suất cơ bản, mức cung tiền, tốc độ tăng trưởng tín dụng… Các NHTM trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ của mình, sẽ phải tuân theo các quy định chặt chẽ của Nhà nước, qua đó góp phần thực hiện các biện pháp điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Hệ thống NHTM là cầu nối trong hội nhập kinh tế quốc tế Trong hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân từ mọi nơi trên thế giới tiến hành giao thương với nhau một cách thường xuyên, liên tục. Các hoạt động xuất - nhập khẩu, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối … đòi hỏi hệ thống NHTM phải hội nhập vào nền tài chính quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của mọi thành phần trong nền kinh tế. Có thể nói các NHTM đóng vai trò tiên phong trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, làm cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, qua đó đóng góp vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NHBL 1.
Khái niệm dịch vụ NHBL Theo quan điểm truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực tiếp bán cho người mua là người sử dụng, tiêu dùng. Ngược lại bán buôn là hình thức mua bán hàng hoá thông qua các trung gian, đại lý để bán với số lượng lớn mà không bán nhỏ lẻ trực tiếp cho người sử dụng, tiêu dùng. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng có 2 cách hiểu về bán buôn và bán lẻ : Theo cách hiểu thứ nhất, giống với quan điểm truyền thống, bán buôn tín dụng là tất cả các khoản cho vay thông qua thị trường tài chính liên NH hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác (các NHTM, các quỹ, các tổ chức làm đại lý uỷ thác) không tính đến giá trị khoản vay. Bán lẻ tín dụng bao gồm các khoản HV: Nguyễn Đức Minh 5 Khoa Kinh Tế & Quản Lý CH Khoá 2006-2008 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN cho vay trực tiếp tới người vay cuối cùng, không phân biệt quy mô lớn nhỏ của khoản vay.
Theo cách hiểu thứ hai, bán buôn tín dụng là hình thức cho vay bao gồm các khoản vay theo cách hiểu thứ nhất, cộng thêm các khoản vay có giá trị lớn hơn một quy mô nào đó, quy định cụ thể từng nước (ví dụ đối với nước Anh là những khoản vay từ 50.000 bảng trở lên được coi là khoản cho vay bán buôn). Bán lẻ tín dụng bao gồm các khoản cho vay trực tiếp tới người tiêu dùng cuối cùng là các nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cộng với khoản cho vay đối với những công ty, tập đoàn, doanh nghiệp lớn với quy mô khoản vay nhỏ hơn một giá trị nào đấy (ví dụ đối với nước Anh là dưới 50. Các sản phẩm NH không chỉ có tín dụng mà còn nhiều sản phẩm phi tín dụng khác như thanh toán, uỷ thác quản lý tài sản …. Do vậy, tiêu chí cụ thể để phân biệt được dịch vụ NH bán buôn và bán lẻ với mọi loại hình sản phẩm cụ thể là điều rất khó.
Tuy nhiên, một cách tương đối có thể phân biệt như sau: ▪ Ngân hàng bán buôn: “là NH thực hiện các hình thức bán sản phẩm thông qua các trung gian tài chính (các NHTM, các quỹ,…) hoặc thông qua thị trường tài chính (thị trường liên NH, thanh toán bù trừ,…) cũng như đối với các tập đoàn kinh tế lớn, các công ty lớn với gói sản phẩm có giá trị lớn” [22]. ▪ Ngân hàng bán lẻ: “là NH thực hiện hình thức bán trực tiếp đến các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như một số gói sản phẩm nhỏ lẻ đối với các công ty, tổ chức kinh tế lớn” [22]. Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu dịch vụ NHBL là các dịch vụ NH phục vụ trực tiếp khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và cả các gói sản phẩm dịch vụ nhỏ lẻ đối với các công ty, tập đoàn lớn. Quan niệm này bao hàm quan niệm truyền thống về bán lẻ, và có bổ sung thêm yếu tố về độ lớn của giá trị gói sản phẩm.
HV: Nguyễn Đức Minh 6 Khoa Kinh Tế & Quản Lý CH Khoá 2006-2008 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN 1. Các đặc trưng của dịch vụ NHBL Dịch vụ NHBL cũng mang các đặc điểm của dịch vụ, đó là : tính không chuyển giao sở hữu, tính vô hình, tính không đồng nhất, chất lượng không ổn định và tính không thể lưu trữ [24, 31-33] : ▪ Tính không chuyển giao sở hữu: Khách hàng không sở hữu dịch vụ. Khách hàng nhận được các giá trị từ dịch vụ mà không có quyền sở hữu bất kỳ yếu tố hữu hình đáng kể nào. Thực hiện một dịch vụ bao gồm việc tập hợp và chuyển giao kết quả của sự kết hợp các yếu tố là những tiện ích hữu hình và sức lao động hoặc tri thức của người lao động.
Khách hàng cũng là người tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ. ▪ Tính vô hình: Trong dịch vụ, lợi ích xuất phát từ bản chất của việc thực hiện, không tồn tại dưới dạng vật chất. ▪ Tính mau hỏng, chất lượng không ổn định: Mỗi dịch vụ được tiêu dùng một lần duy nhất. Quá trình sản xuất dịch vụ xảy ra đồng thời khi khách hàng tiêu dùng dịch vụ.
Do vậy, chất lượng dịch vụ có thể khác nhau giữa những khách hàng khác nhau hoặc khác nhau theo thời gian và địa điểm chúng được tiêu dùng. Do vậy, việc loại trừ các sai sót và lỗi của dịch vụ là công việc không dễ dàng kiểm soát đối với các nhà quản trị. ▪ Tính không đồng nhất: Khách hàng khó đánh giá dịch vụ.