CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh (compete) có nguồn gốc latin: competere, nghĩa là tham gia đua tranh với nhau.
Cạnh tranh cũng có nghĩa là nỗ lực hành động để thành công hơn, đạt kết quả tốt hơn người đang có hành động giống như mình. Do đó sự cạnh tranh là một sự kiện trong đó cá nhân hay tổ chức cạnh tranh nhau để đạt thành quả mà không phải mọi người đều giành được. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam 1 (1995, trang 357): “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa người sản xuất hàng hóa, các thương nhânvà các nhà kinh doanh trong nền kinh tế. Thị trường điều tiết mối quan hệ cung cầu với mục đích dành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường." Theo Lê Danh Vĩnh và cộng sự (2010, trang 11) trích dẫn các khái niệm về cạnh tranh như sau: “Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được cuốn Black’Law Dictionary (1999) diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba.” Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
Porter (1985, trang 31): “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể khái 12 quát lại khái niệm cạnh tranh như sau: Cạnh tranh (kinh tế) là sự nỗ lực hoặc hành vi đấu tranh, ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh nhằm giành được những lợi ích từ chủ thể thứ ba. Những lợi ích đó có thể là lợi nhuận, thị phần, khách hàng, các tài nguyên, điều kiện sản xuất, tiêu thụ … 1.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Các thuật ngữ cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và sức cạnh tranh đều có cùng một ý nghĩa. Mặc dù những thuật ngữ này được sử dụng phổ biến và gắn liền với các cạnh tranh nhưng việc hiểu và đo khả năng cạnh tranh vẫn là một nhiệm vụ phức tạp. Tổ chức Hợp tác và và Phát triển Kinh tế định nghĩa năng lực cạnh tranh là “Khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”.Ở quy mô rộng hơn, khái niệm năng lực cạnh tranh được Diễn đàn Kinh tế thế giới quan niệm: “Đối với doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trưởng mới, mang lại giá trị cho các cổ đông. Đối với xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh là tạo ra việc làm mới và điều kiện sống tốt hơn”.
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm nhiều mặt, bao gồm nhiều cấp độ và phạm vi khác nhau. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và năng lượng cạnh tranh sản phẩm/dịch vụ là ba cấp độ cơ bản thường xuyên được phân tích, đánh giá. Các cạnh tranh này được kết nối với nhau và bao gồm một loạt các khái niệm khác nhau. Để hiểu rõ hơn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, điều quan trọng là phải phân biệt giữa năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ.
Khả năng cạnh tranh của một sản phẩm hoặc dịch vụ được xác định bởi khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tham gia trao đổi sản phẩm liên quan đến các sản phẩm cạnh tranh. Đánh giá khả năng cạnh tranh của một sản phẩm hoặc dịch vụ bao gồm việc đánh giá lợi ích so sánh của nó qua nhiều tiêu chí khác nhau. Porter thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của nó (về nhiều chỉ tiêu) so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường (Michael E. Trên đây chúng ta đã điểm qua một vài khái niệm với những đặc trưng bản chất của hai cấp độ về năng lực cạnh tranh.
Theo như trên, năng lực cạnh tranh của doanh 13 nghiệp cũng được diễn đạt, được hiểu theo một số cách thức khác nhau qua một vài quan niệm khác nhau. Một là, Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc làm thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường (vi.org/wiki/canhtranh). Hai là, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh, mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận thông qua một số chỉ tiêu như năng suất, chất lượng, công nghệ, sự khác biệt về hàng hoá, dịch vụ được cung cấp, giá trị tăng thêm, chi phí sản xuất; là khả năng của doanh nghiệp thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong việc đạt được mục tiêu quan trọng nhất: lợi nhuận (Michael E. Porter, 2009a) Về cơ bản, một số đặc điểm cơ bản của khả năng cạnh tranh bao gồm: - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào cả yếu tố bên trong (sức mạnh, lợi thế) và yếu tố bên ngoài (môi trường kinh doanh).
- Năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp không được xác định một cách biệt lập hay riêng lẻ mà thông qua việc đánh giá, so sánh với các đối thủ trong cùng lĩnh vực, thị trường. - Điểm mạnh, lợi thế quyết định khả năng cạnh tranh của công ty phải hướng tới sự hài lòng của khách hàng (mục tiêu trực tiếp) để đạt được mục tiêu ki nh doanh tối ưu, trong đó có lợi nhuận (mục tiêu cuối cùng). - Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đó có nhiều chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả/lợi ích sản xuất kinh doanh như doanh thu, thị phần, lợi nhuận và các chỉ tiêu phản ánh thực lực, lợi thế hoạt 1. Lợi thế cạnh tranh Theo một số định nghĩa lợi thế cạnh tranh là: Lợi thế cạnh tranh cạnh tranh công ty dành được thông qua việc cung cấp cho khách sản phẩm, dịch vụ có giá trị lớn hơn họ kỳ vọng, dẫn đến kết quả vượt trội thể hiện qua các chỉ tiêu thông thường như thị trường và tài chính, Porter ( 2004) cho rằng lợi thế cạnh là có chi phí thấp, lợi thế khác biệt hoặc có chiến lược tập trung thành công.
Lợi thế cạnh 14 tranh tăng trưởng dựa trên cơ sở công ty có năng lực tạo giá trị cho người mua vượt chi phí công ty tạo ra nó. Theo Collis & Montgomery (2008), bất kể nguồn từ đâu, lợi thế cạnh tranh được qui về sở hữu nguồn lực có giá trị, làm cho công ty có thể thực hiện tốt hơn hoặc rẻ hơn đối thủ. Rumelt, et al. (2003) nhận xét rằng điểm chung của các định nghĩa này là có được khi sáng tạo ra giá trị, nhưng giá trị đối với ai khi nào là chưa nhất trí.
Lợi thế cạnh tranh còn được dùng lẫn với hoặc định nghĩa qua năng lực hoặc tài sản đặc trưng hay một chiến lược đang thực thi. Một điểm chung khác là lợi thế cạnh giống như năng lực cạnh tranh mang tính tương đối và chỉ có ý nghĩa khi so sánh với thực thể khác (làm tốt hơn, sở hữu nguồn lực tốt hơn, bền vững hơn. Chiến lược cạnh tranh Nhiều nghiên cứu đã củng cố những vai trò và tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Cụ thể, Dess và Davis (1984) cho rằng chiến lược cạnh tranh ít nhất có thể giúp doanh nghiệp đạt được hiệu suất hoạt động cao hơn so với các doanh nghiệp khác.
Karnani (1984) đánh giá rằng sự khác biệt về chi phí hoặc sự khác biệt về vị thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao hơn. White (1987) chỉ ra rằng các đơn vị kinh doanh chiến lược của doanh nghiệp có thể đạt được lợi tức đầu tư (ROI) cao hơn khi áp dụng chiến lược dẫn đầu về chi phí, trong khi chiến lược khác biệt hóa có thể giúp doanh nghiệp tăng doanh thu nhờ các chức năng quan trọng trong doanh nghiệp. Wright (1991) tin rằng các công ty áp dụng cả chiến lược khác biệt hóa và chi phí thấp có thể mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất. Bush và Sinclair (1992) đã tiến hành nghiên cứu thực tế và tin rằng các công ty thành công trên thị trường là những công ty kết hợp linh hoạt và thành công giữa chi phí thấp và sự khác biệt hóa.
Tehrani (2003) đưa ra quan điểm về tác động hoàn toàn khác nhau của năm chiến lược cạnh tranh (khác biệt hóa sản phẩm, chi phí thấp, khác biệt hóa tiếp thị, tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm và tập trung vào chi phí thấp) trên từng khu vực địa lý. Kaya (2004) nghiên cứu mối quan hệ giữa công nghệ sản xuất tiên tiến, chiến lược cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, chỉ ra rằng chiến lược kép giữa chi phí thấp và khác biệt hóa có thể mang lại lợi ích kinh tế cao. Mục đích hoạt động chính của DN là tối ưu hóa doanh thu, lợi nhuận và xây dựng được lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Một trong những lợi thế cạnh tranh điển hình mà 15 DN có thể xác lập trong ngành đó là kiểm soát cấu trúc chi phí và đưa ra thị trường các sản phẩm dịch vụ có mức chi phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Đây là cách thức cạnh tranh phổ biến còn được gọi là chiến lược chi phí thấp, đề cập đến lợi thế cạnh tranh thông qua việc định giá thấp hơn một cách đáng kể so với đối thủ cạnh tranh khác (Porter, 2001). Chiến lược chi phí thấp là chiến lược cạnh tranh dựa trên chi phí thấp nhất trên thị trường, cho phép DN cạnh tranh hiệu quả bằng giá của sản phẩm hoặc dịch vụ (Woodruff, 2007).