Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. 3 Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Định hướng và giải pháp.
4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao. Theo nhà kinh tế học Michael Porter (1998) của Mỹ thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần”. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội, thách thức từ đó định hướng cho quá trình hoạt động kinh doanh của mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh Một thuật ngữ có liên quan đến cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia).
Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có 5 nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Micheal Poter cho rằng, lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau,lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh Theo từ điển tiếng Việt (2007), năng lực cạnh tranh là khả năng dành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ. Theo Micheal Porter (1998) thì không có một định nghĩa thật sự về năng lực cạnh tranh và không có một lý thuyết nào giải thích nó được chấp nhận một cách phổ biến.
Trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau tuy nhiên đều thống nhất khái niệm năng lực cạnh tranh có thể được nhìn nhận ở cả hai cấp độ: cấp độ vĩ mô bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia và cấp vi mô bao gồm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của các ngành kinh doanh và của sản phẩm. Theo Aldington Report (1985), doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp. Holcombe (1999) lại cho rằng năng lực cạnh tranh là năng lực giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định.
Vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy năng lực cạnh tranh được nâng cao. Theo Philip Lasser, năng lực cạnh tranh của một công ty trong một lĩnh vực được xác định bằng những thế mạnh mà công ty có hoặc huy động được để có thể cạnh tranh thắng lợi. Trong quản trị chiến lược, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng một doanh nghiệp đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của ngành. 6 Randall, Phillip Lasser và một số quan điểm khác có cách nhìn nhận năng lực cạnh tranh khác nhau.
Các quan điểm trên chỉ đề cập đến một phần, một khía cạnh về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (đó là khả năng duy trì thị phần và lợi nhuận của doanh nghiệp). Trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Do đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp, … mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của NHTM Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy (2005) thì năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. Khái niệm này đã đề cập đến năng lực nội tại của một NHTM và mối quan hệ của nó với sự phát triển của của ngành ngân hàng trên cơ sở tận dụng được lợi thế của mình nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn.
Mặt khác, khái niệm trên cũng thể 7 hiện sự linh hoạt trong chiến lược cạnh tranh của NHTM khi thích nghi và tận dụng những sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Rõ ràng hoạt động của NHTM có ổn định và phát triển hay không, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ là ngân hàng nước ngoài hay không và có khả năng vươn ra thị trường quốc tế hay không phụ thuộc vào không chỉ bản thân các nguồn lực nội tại và hiện có của ngân hàng. Vị thế hệ thống ngân hàng trong tương lai phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như đối thủ cạnh tranh chính của các ngân hàng là ai (các sản phẩm, dịch vụ thay thế), khả năng thâm nhập của các đối thủ mới như thế nào, mức độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại sẽ ra sao, các nguồn lực mà ngân hàng có để thích ứng với sự thay đổi, chiến lược mà các ngân hàng đang sử dụng và mức độ linh hoạt của chiến lược cạnh tranh, các điều kiện của môi trường vĩ mô tác động như thế nào đến khả năng hiện tại của các ngân hàng trước những thách thức mới, những thời cơ mới. Chúng ta không thể tách rời hoạt động của các NHTM ra khỏi hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính cũng như không thể không phân tích những yếu tố của môi trường quốc gia về cầu và các nhân tố sản xuất, về các ngành liên quan và phụ trợ…và tác động của yếu tố đó đến hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của các NHTM.
Có như vậy, chúng ta mới đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của NHTM trong sự biến đổi liên tục của môi trường kinh doanh và nhu cầu đa dạng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng. Tóm lại, năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác; tạo lập, duy trì lợi nhuận và thị phần trên cơ sở đa dạng và nâng cao chất lượng tiện ích các dịch vụ tài chính ngân hàng. ĐẶC ĐIỂM NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Trong lĩnh vực ngân hàng thì cạnh tranh được hiểu là chủ thể ngân hàng với nghệ thuật sử dụng tổng hợp các phương thức, yếu tố, nhằm giành được phần thắng trên thị trường với lợi nhuận cao nhất có thể, nhằm nâng cao vai trò và khẳng định vị thế của ngân hàng mình trên thị trường. 8 Trong kinh doanh, các NHTM luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, không chỉ từ các NHTM khác, mà từ tất cả các tổ chức tín dụng đang cùng hoạt động kinh doanh trên thương trường với mục tiêu là để giành giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng cũng như mở rộng cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế.
Tuy vậy, so với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc thù nhất định. Cụ thể: Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ có liên quan đến tiền tệ. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn hoá… Khi mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung.