Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm chất thải Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Luật BVMT, 2005) [26]. Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn.
Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy. Nguyễn Đình Hương, 2003) [13]. Khái niệm chất thải rắn Tại điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/04/2007 về quản lý chất thải rắn [19]. - Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.
- Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. - Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt động cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. - Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác. - Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
4 - Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi chuyển đến cơ sở xử lý. - Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng. - Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn. - Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
- Phân loại rác tại nguồn là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau. - Rác là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người (Trần Hiếu Nhuệ và CS, 2001) [21].
- Tái chế chất thải thực chất là người ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới. - Tái sử dụng chất thải được hiểu là có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài. Người ta có thể sử dụng được nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học (Nguyễn Thế Chinh, 2006) [5]. Các nguồn phát thải và các dạng CTR * Các nguồn phát thải CTR: Các nguồn phát sinh CTR chủ yếu từ các hoạt động: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thương mại, khu dân cư, cơ quan, trường học, bệnh viện.
5 Dịch vụ, Cơ quan, Nông nghiệp, thương mại, trường học hoạt động xử xe, nhà ga lý rác thải Nhà dân, khu Chất thải Bệnh viện, dân cư rắn cơ sở y tế Khu công Giao thông, Nơi vui chơi, nghiệp, nhà xây dựng giải trí máy, xí nghiệp Hình 1.1: Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải rắn * Các dạng CTR: Trong một nguồn thải có thể có một hay nhiều loại CTR khác nhau. Thông thường, người ta phân ra các loại CTR đô thị như sau: - CTR thực phẩm: CTR thực phẩm bao gồm phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn… Đặc điểm quan trọng của các loại CTR này là phân huỷ nhanh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Quá trình phân huỷ thường gây ra mùi khó chịu. - CTR bỏ đi: CTR này bao gồm các chất thải cháy và không cháy sinh ra từ các hộ gia đình, công sở, hoạt động thương mại… Các chất thải cháy như giấy, bìa, nhựa, vải, cao su, da, gỗ… Chất thải không cháy: thuỷ tinh, vỏ hộp kim loại, nhôm.… 6 - Tro, xỉ: vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá.… Ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp.
- CTR xây dựng: CTR từ công trình xây dựng, sửa chữa nhà cửa. - CTR đặc biệt: CTR quét phố, CTR từ các thùng CTR công cộng, xác động thực vật… - CTR từ các nhà máy xử lý: CTR từ hệ thống xử lý nước, nước thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp. - CTR nông nghiệp: vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như gốc rơm rạ, cây trồng, chăn nuôi, bao bì đựng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật… - Chất thải nguy hại: chất thải hoá chất, sinh học, dễ cháy, dễ nổ hoặc mang tính phóng xạ theo thời gian có ảnh hưởng đến đời sống con người, động vật, thực vật [3]. - Trong công nghiệp, các loại và khối lượng CTR phụ thuộc nhiều vào các ngành công nghiệp, quy trình sản xuất và công nghệ sản xuất.
Nguồn CTR và loại CTR có thể khác nhau ở nơi này nơi khác, khác nhau về số lượng, về kích thước, phân bố về không gian. Ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, tỷ lệ CTR sinh hoạt thường cao hơn CTR công nghiệp. Ở một số nước công nghiệp phát triển, tỷ trọng của hai loại CTR này có lúc xấp xỉ nhau (1/1) (Lê Văn Khoa và cs, 2006) [14]. Phân loại chất thải rắn Hoạt động phân loại CTR là bước không thể thiếu để sử dụng lại, tái chế, làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, làm phân, tạo khí metan… Chính vì vậy, nó tạo tiền đề để giảm thiểu tác động có hại của CTR đến môi trường.
Phân loại CTR có thể dựa vào nguồn gốc, trạng thái, tính chất của chất thải và có thể tiến hành phân loại ngay ở các hộ gia đình, các điểm trung chuyển, các bãi tập trung chất thải. • Phân loại chất thải theo nguồn gốc phát sinh: - Chất thải sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, các 7 trung tâm, dịch vụ, thương mại. Có thành phần bao gồm các kim loại, sành xứ, thực phẩm dư thừa, vỏ hoa quả, xác động vật thực vật… - Chất thải công nghiệp: Phát sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công… • Phân loại theo trạng thái chất thải - Chất thải trạng thái rắn: Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải nhà máy chế tạo máy, xây dựng (kim loại, da, hóa chất đơn nhựa, thủy tinh, vật liệu xây dựng…) - Chất thải lỏng: Nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước thải nhà máy sản xuất giấy và vệ sinh công nghiệp… - Chất thải trạng thái khí: Bao gồm khí thải các động cơ đốt trong, máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hỏa, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu… • Phân loại theo tính chất nguy hại - Là chất thải có chứa các chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương đương với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe của cộng đồng. - Vật phẩm nguy hại sinh ra tại các bệnh viện trong quá trình điều trị người bệnh (các loại vật phẩm gây bệnh thông thường được xử lý ở chế độ nhiệt cao, từ 1150oC trở lên, cá biệt có loại vi sinh vật gây bệnh chỉ bị tiêu diệt khi nhiệt xử lý lên tới 3000oC…) - Kim loại nặng: Các chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp có thành phần As, Pb, Hg, Cd… là mầm mống gây bệnh ung thư cho con người.
- Các chất phóng xạ, các phế thải có phóng xạ sinh ra qua quá trình xử lý giống cây trồng, bảo quản, khai khoáng năng lượng…(PGS. Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004) [18]. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng 8 tái chế, tái sinh.
Vì vậy mà việc nghiên cứu thành phần chất thải rắn sinh hoạt là điều hết sức cần thiết. Từ đó ta có cơ sở để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sinh để phát triển kinh tế. Thông thường thành phần của chất thải rắn đô thị bao gồm các hợp phần sau: Giấy, catton, chất dẻo, cao su, gỗ, kim loại, bụi, tro, gạch…[1]. Cơ sở pháp lí của đề tài - Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Luật BVMT 2005 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực ngày 01/07/2006. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT. - Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. - Nghị định 21/2008/NĐ-CP ban hành ngày 28/02/2008 của Chính Phủ về sữa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính Phủ về việc uy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 9/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của Chính phủ: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. - Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải. - Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 18/1/2007 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 67/2003.