Chương 1: Tín dụng ngân hàng và hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với phát triển nền kinh tế và ngành công nghiệp giấy. Chương 2: Thực trạng và hiệu quả đầu tư tín dụng của NHCT Phú Thọ đối với ngành công nghiệp giấy trên địa bàn (giai đoạn 2001 - 2005). Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng nhằm phát triển ngành công nghiệp giấy trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VÓI PHÁT TRIẼN NỀN KINH TẾ VÀ NGÀNH C Ô N G NGHIỆP GIẤY.
T Í N DỤNG NGÂN HÀNG VÀ H IỆ U QUẢ CỦA T ÍN DỤNG NGÂN HÀNG. K h á i n iệ m , đ ặ c đ iể m v à c á c h ìn h th ứ c tín d ụ n g n g â n h à n g. Như đã biết, ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính giữa người cho vay - người vay, giữa người mua - người bán. Không thể có sự trùng khớp hoàn toàn lợi ích kinh tế giữa ngân hàng - trung gian tài chính, thu hút vốn nhàn rỗi để cung cấp cho xã hội, và khách hàng - chủ sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ luôn cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh; tuy nhiên ngân hàng - bằng chức năng của mình đã nối kết hai mục đích này.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn (tín dụng) giữa một bên là ngân hàng (hoặc các tổ chức tín dụng), còn bên kia là những chủ thể kinh tế khác trong xã hội trên cơ sở hoàn trả và có lãi. Trong đó, ngân hàng giữ vai trò vừa cho vay, vừa là người đi vay. Hoạt động tín dụng ngân hàng là cơ chế hoạt động của các tổ chức tín dụng, được thực hiện thường xuyên thông qua các nghiệp vụ khác nhau. Sự phát triển các hình thức tín dụng ngân hàng trên thế giới qua nhiều thập kỷ qua cho đến nay đã có nhiều thay đổi về cả chiều rộng và chiều sâu.
Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá, tín dụng đã phát triển ở trình độ ngày một cao hơn; đặc 5 biệt là việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào việc đa dạng hoá các hình thức và sản phẩm tín dụng ngân hàng. + Huy động vốn và cho vay được thực hiện dưới hình thức tiền tệ. Bằng chức năng và những cơ chế thích hợp, ngân hàng huy động tất cả những nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hoặc nhàn rỗi lâu dài trong nền kinh tế về quỹ của mình để hình thành nguồn vốn cho vay. Trên cơ sở nguồn vốn này, cũng bằng những cơ chế và chính sách phù hợp, ngân hàng tiến hành cho các chủ thể kinh tế vay để bổ sung vào nguồn vốn sản xuất và kinh doanh.
Huy động vốn và cho vay dưới hình thức tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng phù hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế. + Các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian trong quá trình huy động và cho vay. Hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm hai nghiệp vụ có tính độc lập tương đối: huy động vốn và cho vay. Ngân hàng sẽ đóng vai trò là người đi vay khi thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, và là người cho vay khi sử dụng nguồn vốn để đầu tư tín dụng cho các chủ thể kinh tế.
Như vậy, ngân hàng đóng vai trò là tổ chức kinh tế trung gian: đi vay để cho vay. + Quá trình vận động của tín dụng ngân hàng độc lập với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Vốn tín dụng ngân hàng là bộ phận không thể tách rời khỏi quá trình tái sản xuất xã hội. Xét về một khía cạnh nào đó, khi khối lượng hàng hoá sản xuất và lưu thông tăng lên thì nhu cầu vốn, trong đó, có vốn tín dụng ngân hàng cũng tăng lên.
Trong trường hợp này, vốn của tín dụng ngân hàng vận động phù hợp với sự vận động và phát triển của quy trình tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, vốn tín dụng ngân hàng không tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá mà được sử dụng với những mục đích phi sản xuất, ví như: tái chiết khấu hoặc tái cầm cố các loại công trái 6 quốc gia, các loại trái khoán của Chính phủ. Cũng có thể tín dụng ngân hàng được sử dụng vào những vụ áp phe cổ phiếu hay trái khoán hoặc những vụ kinh doanh không có lợi cho nền kinh tế quốc dân. Hoặc như trong thời kỳ kinh tế bị khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu vốn tín dụng vẫn gia tăng.
Nhu cầu này không phải cho tái sản xuất mà để thanh toán những nợ nần, chống tình trạng vỡ nợ. Trong trường hợp khác, hiện tượng ngược lại có thể xảy ra; đó là trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất-kinh doanh, hàng hoá sản xuất và luân chuyển tăng rất mạnh, nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Những mâu thuẫn này thường xuyên diễn ra, đó là những hiện tượng bình thường của nền kinh tế thị trường. Các hình thức cơ bản của tín dụng ngân hàng.
Các hình thức cơ bản của tín dụng ngân hàng được phân loại theo hàng loạt các dấu hiệu cơ bản sau: + Căn cứ theo thời hạn thanh toán: - Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để bổ sung thiếu hụt tạm thời vòng quay vốn của các doanh nghiệp hay cho những nhu cầu cấp bách trong ngắn hạn. Tập hợp các nghiệp vụ như vậy sẽ tạo thành một cấu phần cho thị trường vốn - thị trường tiền tệ. Thời hạn tín dụng ngắn hạn được tính kể từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và tiền lãi theo như thoả thuận trong hợp đồng giữa hai bên. Đối với Việt Nam, các khoản tín dụng có thời hạn đến 12 tháng được quy định là tín dụng ngắn hạn - phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng thanh toán của khách hàng.
- Tín dụng trung hạn: Tín dụng trung hạn được các ngân hàng cấp cho các khách hàng có nhu cầu đầu tư sản xuất, kinh doanh hoặc trong quá trình đổi mới đòi hỏi một lượng vốn đầu tư vừa phải. Thời hạn cho vay quy định từ trên 12 tháng đến 60 tháng, kể từ khi nhận vốn vay. 7 - Tín dụng dài hạn: Thời hạn tín dụng dài hạn là trên 60 tháng, nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại của doanh nghiệp theo Giấy phép thành lập và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án phục vụ đời sống (ngoại trừ có sự chấp thuận của Chính phủ). Tín dụng dài hạn thường được cấp cho những dự án đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng dân sinh, năng lượng, chế biến và xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc mở rộng sản xuất với quy mô lớn.
+ Căn cứ theo phương pháp hoàn trả. - Thanh toán một lần: Đây là loại hình truyền thống, khi các khoản tín dụng (thường là ngắn hạn) được thanh toán một lần vào cuối kỳ. Loại hình thanh toán này không đòi hỏi các ngân hàng sử dụng hệ thống các mức độ lãi suất khác nhau. - Thanh toán nhiều lần: Đây là hình thức tín dụng được thanh toán làm nhiều lần trong suốt thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
Điều kiện hoàn trả cụ thể được xác định (quy định) trong hợp đồng, trong đó - thường được tính toán sao cho có khả năng bảo toàn nguồn vốn cho ngân hàng trước mức độ biến động của lạm phát. Loại hình này thường được sử dụng cho các khoản tín dụng trung - dài hạn. + Căn cứ theo phương pháp thanh toán lãi suất: - Lãi suất được thanh toán một lần vào cuối kỳ: Đây là một hình thức thanh toán truyền thống được ứng dụng rộng rãi và thường được sử dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn. Hình thức này có đặc trưng là thanh toán rất đơn giản.
- Lãi suất được thanh toán nhiều lần trong thời hạn hiệu lực của hợp đổng tín dụng: Đây cũng là hình thức thanh toán truyền thống đối với các khoản tín dụng trung - dài hạn. Nó phụ thuộc vào các bên trong thoả thuận và thường có nhiều đặc tính khác nhau (như thời hạn và/hoặc mức lãi suất); ví dụ như trong hợp đồng tín dụng dài hạn, lãi suất có thể được thanh toán vào cuối kỳ năm đầu tiên hoặc cho phép kéo dài thời hạn và mức thanh toán lãi suất của mỗi kỳ cũng có thể khác nhau. 8 - Lãi suất được thanh toán ngay khi cấp vốn vay: Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là với các nền kinh tế thị trường phát triển hình thức này hoàn toàn không được áp dụng. Tuy nhiên, nó cũng là một hình thức đã được ứng dụng tại một số quốc gia trong thời kỳ khủng hoảng.
+ Căn cứ theo hình thức bảo đảm. - Hình thức tín chấp: Đây là hình thức mà uy tín của khách hàng chính là tài sản đảm bảo hoàn trả duy nhất cho các khoản tín dụng. Tuy nhiên, các quốc gia thường giới hạn khối lượng tín dụng trong quá trình cấp vốn vay cho khách hàng theo hình thức này. Theo kinh nghiệm, đối với các khoản vay trung - dài hạn, ngân hàng nên quy định bắt buộc các khách hàng phải mua bảo hiểm đối với tài sản đảm bảo, cũng như đối với đối tượng vay vốn trước khi xét cấp vốn vay.
- Hình thức đảm bảo bằng tài sản: Đây được xem như một trong những hình thức và nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng hiện nay. Có rất nhiều loại tài sản có thể được đem ra thế chấp; tuy nhiên, thông thường nhất vẫn là tài sản cố định hoặc các giấy tờ có giá. Khi khách hàng vay vốn vi phạm trách nhiệm của mình, thì các tài sản bảo đảm này sẽ thuộc về ngân hàng để bù đắp các khoản thiệt hại của mình. Và tất nhiên, giá trị của tài sản bảo đảm thường phải lớn hơn giá trị của khoản vốn vay.
- Hình thức bảo lãnh tài chính của bên thứ ba: Ngân hàng sẽ xét duyệt cấp tín dụng cho khách hàng, khi bên thứ ba có đầy đủ khả năng đứng ra chịu trách nhiệm sẽ thanh toán khoản thiệt hại do khách hàng trực tiếp vay vốn vi phạm thoả thuận trong hợp đồng.