phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan về cơ cấu vốn của Doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng sử dụng đòn bẩy tài chính của Công ty Cổ phần Vimeco Chƣơng 3: Đề xuất một số giải pháp sử dụng đòn bẩy tài chính cho Công ty Cổ phần Vimeco 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU VỐN DOANH NGHIỆP Trong nền kinh tế thị trƣờng, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động. Để có đƣợc các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Vốn đối với doanh nghiệp có thể ví nhƣ máu đối với cơ thể con ngƣời.
Cơ thể không có máu sẽ không thể tồn tại cũng nhƣ doanh nghiệp không có vốn hoạt động sẽ không thể hoạt động. Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển chính là việc sử dụng đồng vốn của mình sao cho hiệu quả. Việc sử dụng vốn hiệu quả là vấn đề luôn tồn tại trong mọi cá nhân, doanh nghiệp, ngành, quốc gia trên toàn thế giới. Trong luận văn của mình tôi xin giới hạn phạm vi nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính trong Công ty Cổ phần Vimeco.
NGUỒN VỐN VÀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Nguồn hình thành vốn Trong nền kinh tế thị trƣờng, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Để biến những ý tƣởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, đòi hỏi phải có một lƣợng vốn nhằm hình thành nên những tài sản cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Do vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt nguồn vốn.
Nguồn tài trợ ngắn hạn Nợ phải trả có tính chất chu kỳ: - Các khoản phải trả cho ngƣời lao động và các khoản phải nộp khác, các khoản này có tên gọi là nợ tích lũy, những khoản này phát sinh thƣờng xuyên trong hoạt động kinh doanh, tuy nhiên chúng chƣa đến kỳ thành toán. - Những khoản này gồm: 5 + Tiền lƣơng, tiền công trả cho ngƣời lao động nhƣng chƣa đến kỳ trả. Thông thƣờng, tiền lƣơng hoặc tiền công của ngƣời lao động chi trả hàng tháng bao gồm 2 kỳ: kỳ tạm ứng thƣờng vào giữa tháng và kỳ thanh toán vào đầu tháng sau. Giữa 2 kỳ trả lƣơng sẽ phát sinh những khoản nợ lƣơng trong kỳ.
+ Các khoản thuế, bảo hiểm xã hội phải nộp nhƣng chƣa đến kỳ nộp, các khoản thuế phải nộp hàng tháng nhƣ thuế GTGT, thuế TNDN năm trƣớc nộp vào đầu năm sau, khi mà quyết toán thuế đƣợc duyệt,… + Ngoài những khoản nợ có tính chất thƣờng xuyên trên đây, còn có những khoản phát sinh cũng mang tính chất nhƣ một nguồn tài trợ mà doanh nghiệp tận dụng trƣớc nhƣng không phải trả chi phí, là những khoản tiền tạm ứng trƣớc của khách hàng, số tiền này nhiều hay ít tùy thuộc vào tính chất quan trọng của sản phẩm hàng hóa đó, tình hình cung cầu trên thị trƣờng, khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, yêu cầu và điều kiện thanh toán của đôi bên. Tín dụng nhà cung cấp: - Việc mua chịu, bán chịu giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng vật tƣ, hàng hóa, dịch vụ đã xuất hiện từ lâu, hình thức tín dụng này chiếm vị trí quan trọng trong nguồn tài trợ ngắn hạn đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp mới hình thành hoặc vốn hoạt động còn bị hạn chế. Đƣợc nhận vật tƣ, tài sản, dịch vụ để hoạt động sản xuất-kinh doanh nhƣng chƣa phải thanh toán, trả tiền ngay, điều đó rất có lợi cho doanh nghiệp. Lợi ích của tín dụng thƣơng mại nhà cung cấp rất lớn, đó là: + Cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động; + Đàm phán, tự nguyện giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp; + Kết quả đƣa đến nhanh, khi nhà cung cấp biết rõ khách hàng, có thể đánh giá đƣợc khả năng thu hồi nợ, mức độ tín nhiệm, cũng nhƣ những rủi ro có thể gánh chịu.
- Về phía doanh nghiệp, tuy đƣợc hƣởng tín dụng của nhà cung cấp 6 nhƣng cũng không nên cho đó là loại hình tín dụng không mất chi phí mà cần kiểm tra, xem xét giá mua chịu hàng hóa có cao quá mức bình thƣờng không? Việc sử dụng tín dụng thƣơng mại của doanh nghiệp cũng phải tính đến chi phí của khoản tín dụng đó, cho nên trong nhiều trƣờng hợp, việc doanh nghiệp có nên sử dụng tín dụng thƣơng mại hay không cần xác định chi phí của các khoản tín dụng thƣơng mại đó. Vay ngắn hạn ngân hàng: Nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại là một nguồn tài trợ đặc biệt cho doanh nghiệp, đó là nguồn tài trợ ngắn hạn, nhƣ nhu cầu vốn lƣu động của doanh nghiệp gia tăng trong hoạt động kinh doanh. Các tổ chức tín dụng có thể cho các doanh nghiệp vay ngắn hạn với thời gian tối đa là 12 tháng. Thời hạn cho vay cụ thể của từng doanh nghiệp đƣợc xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Lãi suất cho vay là lãi suất thỏa thuận theo cơ chế thị trƣờng và phù hợp với các quy định của ngân hàng Nhà nƣớc, quy định của Luật về các tổ chức tín dụng về lãi suất cho vay khi ký kết hợp đồng tín dụng. Để vay đƣợc nguồn vốn ngắn hạn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp cần chấp hành đầy đủ các nguyên tắc quy định hiện hành về tín dụng ngắn hạn. Các nguồn tài trợ ngắn hạn khác: Ngoài các nguồn vốn để tài trợ ngắn hạn nêu trên, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các nguồn tài trợ khác nhƣ chiết khấu thƣơng phiếu, bán nợ; hoặc để tài trợ nhu cầu tăng vốn lƣu động tạm thời, nhƣ các khoản tiền đặt cọc, tiền ứng trƣớc của khách hàng, các nguồn tài trợ không có bảo đảm khác nhƣ tín dụng thƣ, các khoản cho vay theo từng hợp đồng cụ thể,… Những điểm lợi và bất lợi khi sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn: - Những điểm lợi: + Giúp doanh nghiệp có thể thực hiện dễ dàng, thuận lợi hơn so với sử dụng tín dụng trung và dài hạn. Bởi vì, thông thƣờng các điều kiện cho vay 7 ngắn hạn mà ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tài chính khác đƣa ra đối với doanh nghiệp thƣờng ít khắt khe hơn so với tín dụng trung và dài hạn.
+ Chi phí sử dụng tín dụng ngắn hạn thƣờng thấp hơn so với sử dụng tín dụng trung và dài hạn. + Sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng, linh hoạt điều chỉnh hơn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. - Những điểm bất lợi: + Doanh nghiệp phải chịu rủi ro lãi suất cao hơn, bởi lẽ lãi suất tín dụng ngắn hạn biến động nhiều hơn so với lãi suất dài hạn. + Rủi ro vỡ nợ ở mức cao hơn: Sử dụng tín dụng ngắn hạn đòi hỏi doangh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán lãi vay và hoàn trả vốn gốc trong một thời gian ngắn, nếu tình hình kinh doanh gặp khó khăn, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Việc sử dụng quá nhiều tín dụng ngắn hạn dễ dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp căng thẳng, nhất là đối với một số doanh nghiệp trong tình trạng sử dụng cả nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Nguồn tài trợ dài hạn: Nguồn tài trợ bên trong: - Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tƣ: Hàng năm các doanh nghiệp có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế để bổ sung tăng vốn, tự đáp ứng nhu cầu đầu tƣ tăng trƣởng của doanh nghiệp. - Nguồn khấu hao tài sản cố định: Tiền trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) chủ yếu dùng để tái sản xuất giản đơn TSCĐ. Tuy nhiên do thời gian sử dụng của các TSCĐ thƣờng rất dài, phải sau nhiều năm mới cần thay thế đổi mới; trong khi hàng năm doanh nghiệp đều tính khấu hao và tiền khấu khao đƣợc tích lũy lại.
Vì vậy, trong khi chƣa có nhu cầu thay thế TSCĐ cũ, các doanh nghiệp có thể sử dụng số tiền khấu hao đó để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ tăng trƣởng của mình. 8 - Ngoài hai nguồn kể trên, các doanh nghiệp còn có thể huy động một số nguồn vốn bên trong khác, nhƣ tiền nhƣợng bán tài sản vật tƣ không cần dùng, hoặc khoản thu nhập ròng về thanh lý tài sản cố định để đáp ứng nhu cầu nguồn vốn đầu tƣ dài hạn của mình. Nguồn vốn cổ phần thƣờng: - Cổ phiếu thƣờng và việc huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu thƣờng + Công ty cổ phần là loại doanh nghiệp góp vốn, trong đó số vốn điều lệ của công ty đƣợc chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Số vốn chủ sở hữu ban đầu của công ty cổ phần đƣợc hình thành qua việc phát hành cổ phiếu.
Việc góp vốn cổ phần đƣợc thực hiện dƣới hình thức mua cổ phiếu. Ngƣời nắm giữ cổ phiếu đƣợc gọi là cổ đông. Nhƣ vậy, cổ đông là chủ sở hữu của Công ty cổ phần. + Cổ phiếu là chứng chỉ thể hiện quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần và cho phép cổ đông đƣợc hƣởng những quyền lợi của công ty.
Đối với công ty cổ phần, cổ phiếu là phƣơng tiện để hình thành vốn chủ sở hữu ban đầu và cũng là phƣơng tiện để huy động tăng thêm vốn chủ sở hữu. + Trên các góc độ khác nhau, có thể phân biệt các loại cổ phiếu của công ty cổ phần: Dựa vào tình hình phát hành và lƣu hành, cổ phiếu của công ty cổ phần có thể phân biệt: Cổ phiếu đƣợc phép phát hành, cổ phiếu phát hành, cổ phiếu lƣu hành và cổ phiếu quỹ. Dựa vào hình thức cổ phiếu có thể phân biệt: Cổ phiếu ghi tên (hữu danh) và cổ phiếu không ghi tên (vô danh). Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho ngƣời nắm giữ có thể phân biệt cổ phiếu thƣờng (cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ƣu đãi.
+ Các hình thức phát hành thêm cổ phiếu thƣờng mới để huy động tăng vốn: Phát hành cổ phiếu mới với việc dành quyền ƣu tiên mua cho các cổ đông hiện hành. 9 Phát hành rộng rãi cổ phiếu mới ra công chúng. Phát hành cổ phiếu mới bằng việc chào bán cho ngƣời thứ ba.