Chương 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Ngân hàng thương mại 1 .1 K h á i n iệ m Quan niệm về ngân hàng thương mại ở các nước tuy có khác nhau nhưng nhìn chung đều coi ngàn hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Các nhà kinh tế định nghĩa” Ngân hàng thương mại là những trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thể sử dụng các tờ séc” [7], Theo điều 20 luật các Tổ chức tín dụng Việt nam xác định" Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan", trong đó" hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán". Định nghĩa này nói lên bản chất hoạt động của ngân hàng thương mại, phân biệt chức năng của các ngân hàng thương mại với chức năng của các trung gian tài chính khác.2 V a i tr ò c ủ a n g â n h à n g th ư ơ n g m ạ i tr o n g n ề n k in h tê' Ngân hàng là một loại hình tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau: - Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào các quá trình sản xuất kinh doanh, nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
- Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ 5 - Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng chi trả - Vai trò đại lý: Thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán - Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội 1.2 Tài sản của ngân hàng thương mại 1.1Kháiniệmtàisảncủangân hàngthươngmại Mỗi ngân hàng là một pháp nhân được Nhà nước cho phép thành lập. Tài sản của ngân hàng là toàn bộ những thứ có giá trị mà ngân hàng hiện có quyền sở hữu hoặc có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một cách hợp pháp, nó là kết quả của những hoạt động trong các thời kỳ trước đó và có khả năng mang lại lợi tức cho ngân hàng. Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là tìm kiếm các khoản vốn ( huy động vốn) để sử dụng nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng [5].
Các nhà nghiên cứu và quản lý cho rằng: tài sản có của ngân hàng là giá trị tiền tệ của các tài sản mà ngân hàng hiện có, hiện đang sử dụng vào các mục đích khác nhau, tính đến một thời điểm nhất định.2Đặc điểm tàisảncủangân hàngthươngmại Ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, khác với các lĩnh vực kinh doanh khác, đó là kinh doanh tiền tệ. Chính vì vậy những tài sản của ngân hàng có những đặc điểm rất khác biệt so với các ngành nghề khác. - Tài sản của ngân hàng là những khoản mục sử dụng vốn của ngân hàng. Do những tính chất đặc biệt của hoạt động kinh doanh ngân hàng mà kết cấu tài sản của ngân hàng có một sắc thái riêng, khác với tài sản Có của các doanh nghiệp ( công nghiệp, thương m ại.) về tính chất và kết cấu các khoản mục.
- Đặc điểm chính và nổi bật nhất của tài sản của các ngân hàng thương mại đó là: hầu hết tài sản của các ngân hàng thương mại là các tài sản tài chính (các khoản nợ tài chính), tức là các nghĩa vụ tài chính, gồm các hợp đồng cho vay, hợp 6 đồng thuê mua, các khoản tiền gửi, chứng khoán. Đây chính là đặc điểm tạo nên hầu hết sự khác biệt của hoạt động ngân hàng với các ngành nghề khác, nó cũng quy định các đặc điểm khác của tài sản của ngân hàng thương mại. Tài sản tài chính là những tài sản đặc biệt, nó không có hình thái vật chất cụ thể mà chỉ là những giấy tờ phản ánh giá trị tương lai, là các khoản nợ mà ngân hàng là chủ nợ. Vì vậy nó không chịu tác động của các tính chất lý hoá của môi trường tự nhiên, tuy nhiên nó lại chịu tác động rất lớn của môi trường kinh tế.
Vì những tài sản tài chính là những tài sản có khả năng sinh lời, do vậy việc nắm giữ chúng sẽ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng và chúng cũng chịu rất nhiều loại rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường. Đồng thời nó cũng là các tài sản chịu tác động trực tiếp bởi các chính sách kinh tế của Nhà nước như: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ. - Nếu như ở các ngành sản xuất vật chất, tài sản cố định chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản, và hầu hết tài sản tồn tại dưới trạng thái hữu hình, thì ở các ngân hàng thương mại, tài sản cố định chỉ chiếm không quá 10%, điều này xuất phát từ đặc thù của hoạt động ngân hàng. Các tài sản khác của ngân hàng, nguồn vốn để hình thành hầu hết đều không phải của chủ ngân hàng và phải trả chi phí.
Do đó khi xem xét đặc điểm của tài sản của ngân hàng thương mại, người ta thường quan tâm tới đặc điểm sinh lời và tính thanh khoản của chúng, điều này rất khác biệt so với những ngành khác, đặc biệt là so với các ngành sản xuất vật chất.3 Phân loạitàisảncủangân hàngthươngmại Do tính chất đặc thù của hoạt động ngân hàng nên tài sản của ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng. Tuỳ theo mục đích quản lý mà người quản lý sẽ phân chia tài sản của ngân hàng theo các tiêu thức khác nhau phù hợp vói nội dung quản lý khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung các NHTM thường phân chia tài sản thành các nhóm dựa vào tính thanh khoản và khả năng sinh lời của chúng. Theo tiêu thức này, tài sản của NHTM thường được chia thành 4 nhóm chính sau: (i) Ngân quỹ Đây là nhóm tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong các loại tài sản của ngân hàng, thường được gọi là dự trữ sơ cấp ( Primary reserves).
Các tài sản được 7 xếp vào khoản mục ngân quỹ gồm các loại: tiền mặt tại quỹ; Tiền gửi tại Ngân hàng Trung ương; Tiền gửi tại các ngân hàng khác; Tiền mặt trong quá trình thu nhận. Ưu tiên hàng đầu trong quản trị tài sản có là việc chấp hành dự trữ băt buộc do Ngân hàng Trung ương qui định và đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả thường xuyên cho khách hàng. Do đó để đáp ứng yêu cầu này, ngân hàng phải thựuc hiện dự trữ sơ cấp. Tuy nhiên đây là bộ phận tài sản có khả năng sinh lời rất thấp, vì vậy các nhà quản lý cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc nắm giữ tài sản loại này để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn, đúng luật đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời.
Quy mô của những khoản này có xu hướng giảm thấp cùng với sự phát triên của các hệ thống thanh toán và sự nâng cao trình độ quản lý của ngân hàng. Tỷ trọng của các khoản này trong tổng tài sản thường dưới 10%. (iỉ)Tiềnchovay - Tiền cho vay là nhóm tài sản chủ yếu trong tổng danh mục tài sản của các ngân hàng, chúng thường chiếm trên 70% tổng tài sản có của các NHTM. Đây cung là khoản mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Nếu không kể tới các cổ phiếu trong danh mục đầu tư chứng khoán (nếu có) thì đầy cũng chính là những khoản mang tính rủi ro cao nhất, tính lỏng kém nhất. Danh mục này bao gôm ca tien cho các ngân hàng khác vay, nhưng chủ yếu là những khoản cho các khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân vay. - Danh mục tiền cho vay có thể được phân loại theo nhưng tieu thưc khac nhau chẳng hạn: nguồn vay, thời hạn, tính chất đảm bảo, cách thức cấp tiền vay, cách thức trả nợ. cấu trúc loại cho vay mà mỗi ngân hàng thực hiện là một trong những nét đặc trưng nhất khi phân biệt các ngân hàng với nhau và với các trung gian tài chính khác.
(iii) Đầu tưtàichính -Khoản đầu tư tài chính của các ngân hàng bao gồm đầu tư chứng khoán, các khoản góp vốn mua cổ phần, tuy nhiên phần lớn là đầu tư chứng khoán. Ngân hang đầu tư vào nhiều loai chứng khoán khác nhau: Chứng khoán Chính phu ( trung ương hoặc địa phương ) do Kho bạc Nhà nước phát hành bao gồm: chứng khoán ngắn hạn, trung han và dài hạn; Chứng khoán của các ngân hàng khác, cac công ty tai chinh: 8 bao gồm các cổ phiếu, các giấy nợ khác do các ngân hàng, các công ty tài chính phát hành hoặc chấp nhận thanh toán; Chứng khoán của các công ty khác. - Ngân hàng thường chia chứng khoán thành loại thanh khoản và kém thanh khoản. Thông thường các chứng khoán có tính thanh khoản cao ( chứng khoán thanh khoản) là chứng khoán an toàn, dễ bán nhưng lại có tỷ lệ sinh lời thấp ; ngược lại các chứng khoán kém thanh khoản( chứng khoán đầu tư) có mức độ rủi ro cao và thường có tỷ lệ sinh lời cao.
- Theo các quan điểm an toàn thì phần lớn khoản đầu tư tài chính của ngân hàng gồm những chứng chứng khoán có tính thanh khoản cao, được duy trì chủ yếu vì mục tiêu hỗ trợ cho việc đáp ứng nhu cầu thanh toán và như vậy có thể xem đây là nguồn dự trữ thứ cấp của ngân hàng. Khoản đầu tư mà các ngân hàng nắm giữ nhiều nhất hiện nay là chứng khoán Chính phủ. - Ngân hàng thương mại nắm giữ chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hoá tài sản. Do đó thường nắm giữ những chứng khoán đến ngày đáo hạn để thu lợi.