Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn vốn huy động và quản trị nguồn vốn huy động tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị nguồn vốn huy động tại HD Bank giai đoạn 2010-2012 Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị nguồn vốn huy động tại HD Bank giai đoạn 2013-2015 3 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại “Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến nơi có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế”1. Tuy nhiên, khái niệm về NHTM mỗi nước, mỗi thời kì có những quan điểm khác nhau chẳng hạn: Theo pháp luật nước Mỹ, bất cứ tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một NHTM.
Ngoài ra, một cách tiếp cận khác của Peter S.Rose cho thấy: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức nào trong nền kinh tế”. Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng 2010 do Quốc hội khóa XII, kì họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này cũng định nghĩa: “ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; cung ứng dịch vụ cho vay; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản; và quy định rõ tại điều 107 về các hoạt động kinh doanh khác nhau của NHTM như dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn, Tư vấn tài chính, môi giới tiền tệ, Kinh doanh vàng…”.2 Như vậy, có thể quan niệm một cách tổng quát NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng. 1 “Tiền tệ ngân hàng và Thị trường Tài chính” – Frederic Smishkin, NXB Khoa học và kỹ thuật, 1995.
2 “Luật các Tổ chức tín dụng” – Ngân hàng Nhà nước, NXB Pháp lý Hà Nội. Nguồn vốn huy động của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về nguồn vốn huy động Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải một nguồn vốn nhất định.
Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về nguồn vốn của NHTM như sau: “Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”. Nguồn vốn của NHTM có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: vốn chủ sở hữu – nguồn vốn quan trọng để một ngân hàng bắt đầu hoạt động theo quy định của pháp luật, các nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ, các nguồn vốn vay nợ, có thể được chuyển đổi thành cổ phần, nguồn vốn huy động. Trong đó nguồn vốn huy động được coi là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Đó cũng chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa NHTM và các doanh nghiệp phi tài chính khác.
Các doanh nghiệp phi tài chính thường giữ cơ cấu vốn của mình chủ yếu là vốn chủ sở hữu để đảm bảo an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp mình, trái lại, các NHTM lại chỉ giữ phần vốn chủ sở hữu ở mức nhỏ (khoảng 10%) so với tổng nguồn vốn, chủ yếu lại là nguồn vốn huy động. Điều này được lý giải là do bản chất trung gian tài chính của các NHTM là thực hiện “đi vay” để “cho vay”. “Nguồn vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua các nghiệp vụ của mình. Trong nghiệp vụ huy động vốn này, số tiền mà khách hàng gửi tại NHTM thực chất là khoản vốn mà khách hàng đồng ý cho ngân hàng vay với thời hạn khác nhau để thỏa mãn nhu cầu kinh doanh của ngân hàng”3 1.
Nội dung nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại Việc phân loại nguồn vốn huy động thành các loại khác nhau là tùy theo tiêu thức, mục đích nghiên cứu cũng như mục tiêu quản trị của NHTM. Về cơ bản người ta thường phân thành các nhóm chính sau: Một là, vốn tiền gửi của NHTM 3 “Quản trị và kinh doanh ngân hàng” – Ngô Hướng – Phan Đình Thế, NXB Thống kê Hà Nội, 2002. 5 Vốn tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất đối với bất kì một ngân hàng nào. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau.
Trong quá trình hình thành, khai thác sử dụng hay nói cách khác là quá trình quản trị nguồn vốn có vị trí đặc biệt quan trọng này, cần tìm hiểu và nắm được những đặc điểm chủ yếu của nó4 : Trước hết xét về phương diện tỉ trọng nguồn vốn cấu thành trong tổng nguồn vốn huy động kinh doanh của NHTM thì vốn tiền gửi chiến tỉ trọng lớn nhất. Điều này có thể lý giải từ nguyên lý kinh doanh của NHTM là “đi vay” để “cho vay”. Chính nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận trong kinh doanh của NHTM cũng xuất phát từ đây. Sau đó, vốn tiền gửi, về mặt lý thuyết là một nguồn vốn không ổn định.
Sự biến động của nó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố khách quan và chủ quan. Khách hàng có thể gửi và rút tiền của họ bất cứ khi nào họ cần, ngoài dự kiến của ngân hàng. Chính vì đặc điểm này, trong quá trình quản trị vốn tiền gửi các NHTM cần phải duy trì một khoản “dự trữ thanh khoản” để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút vốn của khách hàng. Hơn nữa, vốn tiền gửi có chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí đầu vào trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM. Những nguồn vốn mà NHTM có thể huy động để hình thành nên vốn tiền gửi của mình bao gồm: - Tiền gửi của dân cư và các tổ chức Tiền gửi của dân cư và các tổ chức là nguồn vốn quan trọng nhất tạo nên nguồn vốn hoạt động của các NHTM. Nó bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà dân cư hoặc các tổ chức gửi vào trong các NHTM, không xác định thời hạn người gửi rút tiền ra, nghĩa là có thể rút tiền ra bất cứ khi nào họ muốn. Mục đích chính của khách hàng khi gửi tiền gửi không kì hạn vào các NHTM là nhằm sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng khi có nhu cầu thanh toán.
Về phí NHTM khi thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi không kì hạn và thực hiện thanh toán cho khách hàng, NHTM sẽ tận dụng được số dư tiền gửi không kì hạn nhất định, hình thành nguồn vồn huy động đáp ứng nhu cầu kinh doanh tín dụng của mình. 4 “Kinh tế học” - Paul Samuelson- William D.Naudhaus, Viện quan hệ Kinh tế Quốc tế Hà Nội. 6 Việc cấp tín dụng từ nguồn vốn không kì hạn như vậy cho phép các NHTM tạo thêm nguồn tiền gửi không kỳ hạn theo một cấp số nhất định, tùy thuộc vào việc NHTM có thể cho vay hết được số tiền được cho vay hay không và cho vay bằng chuyển khoản hay cho vay bằng tiền mặt. Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi mà dân cư và tổ chức gửi vào NHTM với mục đích chính là hưởng tiền lãi do ngân hàng chi trả.
Đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền có thể kế hoạch hóa việc sử dụng khoản thu nhập của mình và nhận được một khoản lợi tức nhất định khi món thu nhập đó còn nhàn rỗi. Tiền gửi kì hạn là bộ phận nguồn nguồn vốn chủ yếu để NHTM cho vay và đầu tư.5 Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Tiền tiết kiệm, nhìn chung là nguồn vốn tương đối ổn định, cho phép NHTM chủ động trong việc sử dụng vốn để cấp tín dụng, đầu tư. Tuy nhiên, chi phí đầu ra cho các khoản tiết kiệm này thường cao hơn và quy mô số dư bình quân của những khoản tiền gửi này thường có giá trị không lớn.
Có hai loại hình thức cơ bản: + Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn Là loại tiền gửi tiết kiệm, trong đó người gửi tiền có thể rút tiền mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày giờ nào làm việc của tổ chức nhận tiền gửi. Với loại tiền gửi này, tổ chức huy động chỉ sử dụng tỉ lệ thấp trên số dư, do đó lãi suất trả cho khách hàng cũng thấp. +Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Là loại tiền gửi được thỏa thuận kỳ hạn nhất định giữa tổ chức nhận tiền và người gửi tiền. Tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn được quy định bằng đơn vị tháng, từ 01 đến 12 tháng.
Tiết kiệm dài hạn có thời hạn trên 12 tháng, NHTM được sử dụng một tỉ lệ tiết kiệm ngắn hạn để cho vay dài hạn (từ 20% – 40%). Tóm lại, hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua nhiều hình thức, với những công cụ, sản phẩm rất đa dạng, phong phú nhằm góp phần tạo nên bộ phận nguồn vốn chủ lực, phục vụ sự nghiệp kinh doanh tiền tệ của NHTM. Hai là, Phát hành giấy tờ có giá 5 “Quản trị Ngân hàng” – Chủ biên: TS. Nguyễn Duệ (Học Viện Ngân Hàng), NXB Thống kê, 2001.