LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Công tác quản trị chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị. Sự phát triển của một tổ chức hay một doanh nghiệp ngoài các yếu tố nhƣ tài chính, khoa học kỹ thuật, thì các nhà quản trị phải biết vận dụng và phát huy yếu tố chính là con ngƣời (Nguồn nhân lực). Thực tế cho thấy dù có thay đổi sâu sắc thế nào thì con ngƣời vẫn luôn là trung tâm, là yếu tố quan trọng nhất của một doanh nghiệp.
Do đó, công tác quản lý nhân sự đóng một vai trò quan trọng, tạo ra sức mạnh phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đây không phải là một công việc dễ dàng khi nó yêu cầu sự hài hòa giữa lợi ích của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động, sự hiệu quả trong quá trình tuyển dụng, thu hút, đào tạo và phát triển đội ngũ cũng nhƣ sự khéo léo trong việc xây dựng tính đoàn kết trong doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trƣờng với muôn vàn khó khăn, thách thức thì quyết định cho sự tồn tại của một doanh nghiệp chính là nguồn nhân lực của doanh nghiệp đó, đặc biệt là đối với ngành Dệt may tại Việt Nam luôn cần tới một lực lƣợng lớn lao động. Ngành dệt may Việt Nam đang trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn có nhiều chính sách ƣu tiên từ Chính phủ và hứa hẹn sẽ đạt tốc độ tăng trƣởng nhanh, đóng góp nhiều hơn cho ngân sách nhà nƣớc nhờ tham gia các FTA và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).
Bên cạnh những cơ hội, ngành Dệt may Việt Nam cũng đang đối mặt với không ít thách thức. Hiện nay, ngành Dệt may Việt Nam có khoảng 2,5 triệu lao động. Theo tính toán thì cứ 1 tỷ USD xuất khẩu dệt may tăng thêm sẽ tạo ra 80 nghìn việc làm trực tiếp. Với tình hình tăng trƣởng nhƣ hiện nay, bình quân mỗi năm sẽ phải cần tới 100 nghìn lao động và dự kiến đến năm 2025 số lao động sẽ tăng lên 5 triệu (Thesaigontimes, 2014).
Với hàng loạt các hiệp định thƣơng mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã và sẽ tham gia, cạnh tranh trong ngành dệt may ngày càng trở nên gay gắt, trong đó, yếu tố nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giúp doanh nghiệp khẳng định đƣợc vị trí trên thị trƣờng. Vì vậy, việc phát triển và quản trị nguồn nhân lực càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Công ty TNHH E-Top Việt Nam với ngành nghề chủ yếu là gia công các Luan van 2 sản phẩm may mặc thời trang vì vậy E-Top Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ của việc ảnh hƣởng này. Với số lƣợng ngƣời lao động cần thiết để duy trì và phát triển công ty cần khoảng 6.000 ngƣời nên việc quản trị nguồn nhân lực làm sao đạt hiệu quả cả về năng suất lao động và con ngƣời thực sự là vấn đề cần thiết cho sự phát triển của Công ty.
Đây cũng chính là lý do em thực hiện đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty TNHH E-Top Việt Nam”. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực, đánh giá, phân tích thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty TNHH E-Top Việt Nam (sau đây gọi là E-Top VN); với những nhận xét đánh giá những kết quả đạt đƣợc, cũng nhƣ những khó khăn, hạn chế. Từ đó, đề xuất một số một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại Công ty trong thời gian tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động thuộc công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty TNHH E-Top Việt Nam có địa chỉ ở Khu công nghiệp Mỹ Xuân A2, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động thuộc công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty TNHH E-Top Việt Nam giai đoạn 2014-2017. Phƣơng pháp nghiên cứu Tổng hợp các thông tin, để phân tích về hiện trạng quản trị nguồn nhân lực tại doanh nghiệp và đề xuất giải pháp. Dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập từ thực tế phát sinh liên quan đến tình hình hoạt động của E-Top VN nhƣ: Các quy chế tuyển dụng, nâng lƣơng, đào tạo, thi đua khen thƣởng, kỷ luật, quy chế lao động, thỏa ƣớc lao động tập thể đồng thời trực tiếp khảo sát và nắm bắt tình hình hoạt động thực tế của Công ty và tham khảo thêm các nguồn dữ liệu trên trang mạng, báo chí, v. Kết quả đạt đƣợc Đề tài thực hiện sẽ: 1) Làm rõ đƣợc thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại E- Top VN với những thành quả và tồn tại, và 2) Đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị nguồn nhân lực của E-Top VN.
Điểm mới và ý nghĩa khoa học của đề tài Đây là đề tài đầu tiên về công tác quản trị nguồn nhân lực tại E-Top VN, các kiến nghị, giải pháp có tính khả thi, có thể vận dụng vào thực tế công tác quản trị nguồn nhân lực tại E-Top VN trong thời gian tới. Kết cấu luận văn Luận văn có kết cấu 3 chƣơng, trong đó: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại E-Top Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp đề xuất nâng cao hiệu quả công tác quản trị nguồn nhân lực.
Luan van 4 CHƢƠNG 1.1 Khái niệm Quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực Theo Begg, Fischer và Dornbusch (2009) thì “Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời tích lũy đƣợc, có khả năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai”. Cũng giống nhƣ nguồn nhân lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tƣ trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tƣơng lai. Theo nhà nghiên cứu Trần Kim Dung (2011) thì “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con ngƣời…”.
Theo tác giả Nguyễn Thanh (2012) thì nguồn nhân lực là: “Tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lƣợng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con ngƣời trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội”. Xét trên bình diện quốc gia hay địa phƣơng nguồn nhân lực đƣợc xác định là “Tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”. Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phƣơng. Một cách chung nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động.
Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm ngƣời, một tổ chức, một địa phƣơng hay một quốc gia (Phạm Minh Hạc, 2016). Theo nhóm tác giả Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2018) thì nhân lực bao gồm trí lực và thể lực của một con ngƣời. Trí lực và thể lực của con ngƣời là nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động của chính con ngƣời đó và ảnh hƣởng đến các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Thể lực chỉ là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ thực phẩm.
Thể lực của con ngƣời còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác và giới tính, v. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, Luan van 5 sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con ngƣời.2 Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực theo lý thuyết phát triển và theo nghĩa rộng đƣợc hiểu nhƣ nguồn lực con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, ngành và là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động để tham gia vào quá trình kinh tế - xã hội, nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, có nhiều khái niệm về quản trị nguồn nhân lực. “Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con ngƣời trong tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của Công ty” ; “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” (Trần Kim Dung, 2016).
Công tác quản trị nguồn nhân lực là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản trị liên quan và có ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngƣời lao động của doanh nghiệp đó. Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động đƣợc thiết kế để cung cấp và điều phối các nguồn lực con ngƣời của một tổ chức (Noe, Hollenbeck, Gerhart, và Wright, 2003). Tất cả các khái niệm trên đều có chung một đích là làm thế nào để sử dụng con ngƣời một cách có hiệu quả nhất và mang lại lợi ích tối đa cho tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực khai thác các khả năng tiềm tàng của lao động, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của tổ chức về mặt nguồn nhân lực. Quản trị nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của ngƣời lao động, chú trọng giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và ngƣời lao động, góp phần giảm bớt mâu thuẫn tƣ bản-lao động.
Quản trị nguồn nhân lực có nhiệm vụ trong tất cả giai đoạn từ lúc các nhân viên mới đƣợc tuyển dụng vào làm việc, quá trình làm việc, học hỏi và tiến bộ của họ trong doanh nghiệp, những đóng góp của ngƣời lao động cho tổ chức doanh nghiệp và đến giai Luan van 6 đoạn ngƣời lao động chuẩn bị nghỉ việc, rời khỏi tổ chức, doanh nghiệp (Trần Kim Dung (2011).