Tổng quan nghiên cứu

Bắc Ninh là địa bàn trọng điểm thuộc châu thổ sông Hồng với khoảng 55% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp theo số liệu quy hoạch phát triển. Toàn tỉnh sở hữu diện tích đất canh tác hơn 40.000 ha, song hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp hiện đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tỷ lệ diện tích tưới tiêu chủ động trên toàn địa bàn mới chỉ đạt mức 48,16%, đồng nghĩa với việc còn trên 32.675 ha ruộng (chiếm 51,84% diện tích canh tác) rơi vào tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất. Đáng chú ý, diện tích canh tác thường xuyên chịu cảnh hạn hán cục bộ lên tới 7.095 ha, tương đương 14,55% diện tích sản xuất nông nghiệp, tập trung chủ yếu tại 2.650 ha đất bãi ven sông và 4.445 ha tại khu vực cuối các kênh tưới.

Hệ thống thủy nông Bắc Đuống với tổng diện tích tự nhiên 71.363,3 ha và 37.294,7 ha đất canh tác giữ vai trò huyết mạch trong việc bảo đảm an ninh nguồn nước cho các huyện Tiên Du, Từ Sơn, Yên Phong, Quế Võ, thành phố Bắc Ninh cùng huyện Đông Anh và Gia Lâm thuộc thành phố Hà Nội. Mặc dù vậy, đa phần các công trình đầu mối và kênh dẫn được xây dựng từ giai đoạn 1960 - 1997 hiện đã xuống cấp trầm trọng, khiến khả năng dẫn nước suy giảm rõ rệt. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý vận hành, tính toán nhu cầu sử dụng nước trong tương lai và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống thủy nông Bắc Đuống. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc gia tăng tỷ lệ cấp nước chủ động từ 35% lên trên 85%, giảm thiểu diện tích úng ngập hơn 5.000 ha hàng năm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết đánh giá hiệu quả hệ thống thủy nông do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cùng Viện Quản lý Nguồn nước Quốc tế (IWMI) ban hành. Khung lý thuyết này tập trung phân tích hiệu quả phân phối nước, hiệu ích tưới mặt ruộng, tác động môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 6773:2000 về chất lượng nước phục vụ tưới tiêu nông nghiệp để đánh giá mức độ an toàn của nguồn nước mặt.

Hệ thống mô hình toán học và chỉ tiêu định lượng được thiết lập dựa trên bốn khái niệm cốt lõi: Thứ nhất, Hiệu suất cung cấp nguồn nước tưới (ký hiệu G) được xác định bằng tỷ số giữa lượng nước cung cấp thực tế tại mặt ruộng và lượng nước yêu cầu của cây trồng. Thứ hai, Mức tưới thực tế đầu hệ thống (ký hiệu M, đơn vị m3/ha) đo lường tương quan giữa tổng lượng nước cấp tại đầu mối và diện tích thực tưới nghiệm thu, phản ánh mức độ tổn thất trên mạng lưới kênh dẫn. Thứ ba, Tỷ lệ diện tích được tưới thực tế (ký hiệu lambda) thể hiện tỷ lệ phần trăm diện tích tưới chủ động nghiệm thu so với kế hoạch thiết kế. Thứ tư, Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tưới năm (ký hiệu alpha) nhằm định lượng mức độ khai thác công suất thực tế của công trình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 1956 - 2008 từ 8 trạm khí tượng thủy văn khu vực bao gồm trạm Hà Nội, Bắc Ninh, Gia Lâm, Đông Anh, Yên Phong, Từ Sơn, Vĩnh Yên và Đa Phúc. Dữ liệu quản lý khai thác được trích xuất từ báo cáo vận hành giai đoạn 1960 - 2010 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống.

Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu 100 phiếu điều tra và phỏng vấn chuyên sâu đối với đội ngũ quản lý tại 6 xí nghiệp thành viên cùng đại diện các hợp tác xã dùng nước tại 116 xã, phường, thị trấn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo 3 tiểu vùng: Tả Trịnh Xá, Hữu Trịnh Xá và Thượng Trịnh Xá.

Phương pháp phân tích bao gồm thống kê toán học, cân bằng nước nhiều năm và phân tích thủy lực dòng chảy. Việc lựa chọn phương pháp cân bằng nước kết hợp điều tra phân tầng là hoàn toàn phù hợp vì giúp lượng hóa chính xác sự thiếu hụt lưu lượng giữa các trạm bơm đầu mối và nhu cầu thực tế của 39.831,7 ha đất canh tác trong điều kiện lượng mưa hàng năm biến động mạnh từ 1.400 mm đến 1.600 mm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hiện trạng vận hành hệ thống thủy nông Bắc Đuống đã chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, năng lực cấp nước thực tế suy giảm mạnh so với thiết kế ban đầu. Tổng diện tích yêu cầu tưới của toàn hệ thống là 39.831,7 ha, song diện tích thực tưới mới đạt 35.591 ha (đạt 89,36%). Đáng chú ý, tỷ lệ tưới chủ động tạo nguồn chỉ đạt 35%, còn lại 65% phụ thuộc vào hình thức tưới bán chủ động. Tại vùng Hữu Trịnh Xá, diện tích thiết kế là 37.161 ha nhưng thực tế chỉ tưới được 19.768,9 ha (đạt 53,19% thiết kế).

Thứ hai, các trạm bơm đầu mối bị suy thoái công năng nghiêm trọng. Trạm bơm Trịnh Xá (xây dựng năm 1964 với 8 tổ máy, công suất 80.000 m3/h) và Trạm bơm Kim Đôi 1 (xây dựng năm 1968, công suất 15 m3/s) hiện chỉ đạt hiệu suất từ 60% đến 70%. Nghiêm trọng hơn, Trạm bơm Xuân Viên chỉ đạt 45% đến 50% hiệu suất thiết kế do máy móc cũ nát và thiết bị điện già cỗi.

Thứ ba, tuyến truyền dẫn nước bị bồi lắng và tổn thất lưu lượng lớn. Trục dẫn Long Tửu - Trịnh Xá dài 12 km bị bồi lắng trung bình 15.000 m3 đến 20.000 m3 bùn cát mỗi năm. Trong tổng số 62,8 km kênh chính Bắc và Nam Trịnh Xá, mới chỉ có 2,5 km được kiên cố hóa bằng bê tông, dẫn đến thất thoát nước trên 30% vào mùa khô.

Thứ tư, tình trạng ngập úng xảy ra thường xuyên trên diện rộng. Mặc dù sở hữu 52 trạm bơm tiêu nhà nước với tổng công suất thiết kế 303,7 m3/s (thực tế chỉ đạt 251,2 m3/s, tương đương 82,7% thiết kế), diện tích úng ngập hàng năm vẫn lên tới hơn 5.000 ha, trong đó khu tiêu Hiền Lương ngập 2.066 ha và khu tiêu Kim Đôi ngập 1.322 ha.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng suy giảm hiệu quả là do hạ tầng được xây dựng từ hơn 30 đến 45 năm trước, nguồn kinh phí duy tu bảo dưỡng hạn chế dẫn đến việc sửa chữa chắp vá sau khi thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí. Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng với mục tiêu phát triển 45% dân số đô thị và chuyển đổi đất nông nghiệp sang khu công nghiệp đã làm gia tăng lưu lượng xả thải mặt, phá vỡ quy hoạch thủy lợi truyền thống.

So sánh với các nghiên cứu của Viện Quản lý Nguồn nước Quốc tế (IWMI) tại Pakistan và Malaysia, nơi hiệu quả sử dụng nước cho lúa đạt từ 0,7 đến 1,1 kg/m3, hệ thống Bắc Đuống đang vận hành ở mức hiệu quả thấp tương tự các hệ thống thủy nông cũ tại Trung Quốc với trên 70% công trình đầu mối xuống cấp.

Các dữ liệu về tỷ lệ đáp ứng lưu lượng và diện tích úng ngập có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ hình cột so sánh công suất thiết kế với công suất thực tế của 52 trạm bơm tiêu, kết hợp cùng biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 35% tưới chủ động và 65% bán chủ động nhằm cung cấp bức tranh toàn cảnh cho các nhà quản trị.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ:

Một là, tiến hành kiên cố hóa và cải tạo toàn diện mạng lưới kênh mương. Đẩy nhanh tiến độ bê tông hóa 60,3 km còn lại của tuyến kênh chính Bắc và Nam Trịnh Xá để đạt tỷ lệ kiên cố hóa trên 70% vào năm 2022. Thực hiện nạo vét định kỳ 15.000 m3 bùn cát mỗi năm trên trục dẫn Long Tửu - Trịnh Xá. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ninh phối hợp cùng Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống.

Hai là, đại tu và thay thế thiết bị tại các công trình đầu mối trọng điểm. Đầu tư thay mới toàn bộ động cơ cơ khí và hệ thống đóng cắt điện cho các trạm bơm Trịnh Xá, Kim Đôi 1, Xuân Viên và Vọng Nguyệt nhằm khôi phục hiệu suất làm việc đạt từ 85% đến 95% trước năm 2023. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ba là, ứng dụng công nghệ tự động hóa SCADA và hệ thống thông tin địa lý GIS trong quản lý vận hành. Thiết lập hệ thống cảm biến đo mực nước và kiểm soát lưu lượng tự động tại cống Long Tửu với lưu lượng thiết kế 28 m3/s, giúp tối ưu hóa công tác điều tiết và cắt giảm 25% chi phí vận hành thủ công trong giai đoạn 2021 - 2025. Chủ thể thực hiện: Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống.

Bốn là, điều chỉnh quy hoạch tiêu thoát nước thích ứng với tiến trình phát triển đô thị. Nâng hệ số tiêu thiết kế từ 4,9 l/s.ha lên mức 7,3 l/s.ha cho các khu vực giáp ranh khu công nghiệp tại Tiên Du, Từ Sơn và Quế Võ, bảo đảm giảm diện tích ngập úng từ 5.000 ha xuống dưới 500 ha vào năm 2025. Chủ thể thực hiện: Chi cục Thủy lợi Bắc Ninh và chính quyền các địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu chuyên khảo mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và tài nguyên nước bao gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh, Chi cục Thủy lợi. Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để rà soát, điều chỉnh quy hoạch cấp thoát nước trên tổng diện tích 71.363,3 ha đất tự nhiên trong bối cảnh công nghiệp hóa.

Thứ hai, Doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thủy nông. Doanh nghiệp có thể ứng dụng trực tiếp quy trình kiểm soát chỉ số hiệu ích tưới và quy chế vận hành 52 trạm bơm tiêu, giúp nâng cao năng suất làm việc cho hơn 485 cán bộ công nhân viên.

Thứ ba, Viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước, Quản lý công trình thủy lợi. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp tính toán cân bằng nước và đánh giá tổn thất hệ thống kênh mương dài 62,8 km theo chuẩn mực FAO và IWMI.

Thứ tư, Đơn vị tư vấn và thiết kế công trình thủy công. Các kỹ sư xây dựng có thể khai thác chuỗi số liệu thủy văn nhiều năm từ 8 trạm quan trắc để tính toán kích thước bể hút, bể xả và công suất máy bơm trục đứng trong các dự án nâng cấp trạm bơm tại đồng bằng Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ diện tích canh tác thiếu nước tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay ở mức bao nhiêu?

Theo số liệu điều tra, diện tích đất canh tác toàn tỉnh là hơn 40.000 ha nhưng diện tích tưới tiêu chủ động mới chỉ đạt 48,16%. Còn lại 32.675 ha đất canh tác (chiếm 51,84%) vẫn trong tình trạng thiếu nước, trong đó có 7.095 ha (tương đương 14,55%) thường xuyên bị hạn hán nghiêm trọng.

Hiệu suất thực tế của các trạm bơm đầu mối lớn tại hệ thống Bắc Đuống suy giảm như thế nào?

Đa số các trạm bơm vận hành trên 30 năm đều bị suy giảm công năng nghiêm trọng. Trạm bơm Trịnh Xá với 8 máy bơm lớn và Trạm bơm Kim Đôi 1 chỉ đạt hiệu suất từ 60% đến 70% so với thiết kế ban đầu, trong khi Trạm bơm Xuân Viên chỉ còn đạt từ 45% đến 50% hiệu suất.

Vì sao trục dẫn nước chính Long Tửu - Trịnh Xá thường xuyên không cấp đủ lưu lượng cho trạm bơm?

Trục dẫn dài 12 km này bị bồi lắng trung bình từ 15.000 m3 đến 20.000 m3 bùn cát mỗi năm, làm đáy kênh nâng cao từ 2 m đến 3 m. Do đó, vào tháng 1 và 2 năm 2009, dù mực nước đạt thiết kế nhưng trạm bơm Trịnh Xá chỉ vận hành được 3 đến 4 máy thay vì 8 máy.

Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hóa tác động tiêu cực gì đến công tác tiêu úng?

Tốc độ đô thị hóa nhanh làm gia tăng hệ số tiêu thoát nước mặt, trong khi các khu công nghiệp như VSIP san lấp mặt bằng làm chia cắt dòng chảy tự nhiên. Hậu quả là hơn 5.000 ha đất canh tác tại Hiền Lương, Kim Đôi và Vạn An thường xuyên bị ngập úng nặng trong mùa mưa.

Luận văn sử dụng các chỉ tiêu định lượng nào để đánh giá chất lượng tưới tiêu?

Nghiên cứu áp dụng bốn chỉ tiêu trọng yếu: Hiệu suất cung cấp nguồn nước tưới G, Mức tưới thực tế đầu hệ thống M (m3/ha), Tỷ lệ diện tích được tưới thực tế lambda và Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch năm alpha, kết hợp đối sánh theo tiêu chuẩn FAO và TCVN 6773:2000.

Kết luận

Những đóng góp chính và lộ trình triển khai của đề tài nghiên cứu bao gồm:

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống thủy nông Bắc Đuống với quy mô 37.294,7 ha đất canh tác, chỉ rõ tỷ lệ tưới chủ động mới đạt mức 35%.
  • Định lượng chính xác mức độ suy giảm hiệu suất của 52 trạm bơm tiêu và các trạm đầu mối như Trịnh Xá, Xuân Viên với hiệu suất chỉ còn từ 45% đến 70%.
  • Xác định nguyên nhân bồi lắng 15.000 m3 bùn cát mỗi năm trên tuyến dẫn Long Tửu và hiện tượng thiếu kiên cố hóa trên 60,3 km kênh chính.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, hiện đại hóa thiết bị và ứng dụng SCADA, GIS nhằm khôi phục năng lực cấp thoát nước trước năm 2025.
  • Đề xuất lộ trình nâng hệ số tiêu lên 7,3 l/s.ha, giải quyết triệt để tình trạng úng ngập cho hơn 5.000 ha đất sản xuất nông nghiệp.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là thiết lập cơ sở khoa học thực tiễn giúp nâng cao năng lực khai thác hạ tầng thủy lợi trong thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ. Kế hoạch triển khai tiếp theo cần tập trung ưu tiên bố trí nguồn vốn đại tu trạm bơm Trịnh Xá và nạo vét trục dẫn ngay trong giai đoạn tới. Các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác chuyên ngành cần nhanh chóng ứng dụng các giải pháp kỹ thuật nêu trên nhằm tối ưu hóa tài nguyên nước và phát triển kinh tế địa phương bền vững.