Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Lịch sử với đề tài "Hệ thống thủy nông ở vùng Tây Nam Bộ từ năm 1954 đến năm 2015", chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 922.9013), được nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Huyền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Như Thường tại Trường Đại học Vinh (bảo vệ năm 2023). Công trình tập trung phục dựng bức tranh lịch sử về việc xây dựng, quản lý và vận hành mạng lưới thủy nông tại khu vực Tây Nam Bộ qua hai giai đoạn chính trị - xã hội khác nhau.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ nông nghiệp trồng lúa nước tại Việt Nam luôn gắn liền hữu cơ với công tác thủy lợi và thủy nông. Thủy nông là điều kiện tiên quyết đi trước một bước nhằm đảm bảo tưới tiêu, thau chua rửa mặn, tiêu úng và phục vụ đời sống dân sinh. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng, lũ lụt và tình trạng hạn mặn ngày càng phức tạp (điển hình là đợt hạn mặn lịch sử năm 2015 gây ảnh hưởng tới 11/13 tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ), việc đúc kết bài học lịch sử trong quản trị nguồn nước là yêu cầu cấp bách. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế, chính trị, văn hóa vùng đất Nam Bộ, song các nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Sử học về hoạt động đào vét kênh rạch, đắp đê ngăn lũ, kiểm soát mặn, quản lý đấu thầu và đầu tư thủy nông trong giai đoạn 1954 - 2015 còn phân tán, để lại một khoảng trống khoa học cần được giải quyết một cách hệ thống.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tái hiện diện mạo hệ thống thủy nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1954 đến năm 2015 trên các phương diện: chủ trương, chính sách, nguồn vốn đầu tư, quá trình thi công các công trình, xác định thành tựu và hạn chế; đồng thời đánh giá tác động nhiều mặt đến kinh tế - xã hội và rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tập hợp và hệ thống hóa các nguồn tài liệu nghiên cứu về hệ thống thủy nông vùng Tây Nam Bộ.
  2. Trình bày điều kiện tự nhiên và những yếu tố tác động đến quá trình hình thành, phát triển hệ thống thủy nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1954 đến năm 2015.
  3. Phục dựng quá trình đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống thủy nông; phân tích thành tựu và hạn chế của thủy nông Tây Nam Bộ qua các thời kỳ.
  4. Đánh giá tác động của hệ thống thủy nông đối với phát triển kinh tế, xã hội và rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ công cuộc phát triển hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu chính là hệ thống thủy nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1954 đến năm 2015 dưới góc độ Sử học, bao gồm điều kiện tự nhiên, cơ chế chính sách, bộ máy quản lý, hoạt động đầu tư xây lắp kênh, mương, cống, đập, trạm bơm và tác động kinh tế - xã hội.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:

  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn vùng Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Cần Thơ (tương ứng với 17 tỉnh thuộc Tây Nam Phần dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 7/1954 (khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền) đến năm 2015 (thời điểm chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và xảy ra đợt hạn mặn lịch sử trên diện rộng). Tiến trình được chia làm hai giai đoạn chính:
    • Giai đoạn 1 (1954 - 1975): Dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Nam Phần Việt Nam.
    • Giai đoạn 2 (1975 - 2015): Sau khi đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, được phân kỳ thành 3 thời kỳ nhỏ: 1975 - 1985 (thời kỳ bao cấp, phục hồi sau chiến tranh), 1986 - 1996 (bước đầu đổi mới), và 1997 - 2015 (đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa).
  • Phạm vi nội dung: Khảo sát các công trình thủy nông, kênh đào, đê bao, cống ngăn mặn, trạm bơm; cơ chế điều hành, nguồn vốn ngân sách, viện trợ quốc tế; phân tích các chỉ số phát triển lúa gạo, thủy sản, giao thông thủy, điều chỉnh phân bố dân cư, y tế và giáo dục.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo sát và phân loại một khối lượng lớn công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài:

Nhóm công trình của các tác giả trong nước

  • Về kinh tế nông nghiệp và làng xã: Luận án kế thừa công trình Kinh tế làng xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc (1951); sách Một số vấn đề phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL của Võ Tòng Xuân (1985); Nông nghiệp ĐBSCL của Dương Hồng Hiên (1989); Sản xuất và đời sống các hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL - Thực trạng và giải pháp của Nguyễn Đình Hương (1999); Những bước đột phá của vùng ĐBSCL trên chặng đường đổi mới kinh tế do Đỗ Hoài Nam và Đặng Phong chủ biên (2006).
  • Về tổng quan địa lý, tiềm năng và điều kiện tự nhiên: Công trình ĐBSCL của Lê Minh (1984); Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ do Huỳnh Lứa chủ biên (1987); ĐBSCL vị trí và tiềm năng của Trần Hoàng Kim (1990); Đề tài Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp vùng ĐBSCL (Mã số 60A, 60B) do Nguyễn Ngọc Trân làm chủ nhiệm (1990); ĐBSCL - Nghiên cứu phát triển do Nguyễn Công Bình chủ biên (1995); bộ sách Lịch sử vùng đất Nam Bộ (12 tập) do Phan Huy Lê chủ biên (2016); Vùng đất Nam Bộ từ năm 1945 đến năm 2010 (Tập VI) do Trần Đức Cường chủ biên (2017).
  • Về lịch sử thủy lợi và công trình thủy nông: Các tác phẩm của nhà nghiên cứu Sơn Nam như Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1997, 2009), Sài Gòn xưa - Dấu ấn 300 năm tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long (2008); sách Thủy nông ở ĐBSCL của Lê Sâm (1996); hệ thống chuyên khảo của kỹ sư Phan Khánh gồm Sơ thảo Lịch sử thuỷ lợi Việt Nam từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 12 năm 1995 (1997), ĐBSCL - Lịch sử và lũ lụt (2001), 300 năm Nam Bộ làm thủy lợi (2004), Lịch sử thuỷ lợi Việt Nam (2014); công trình Kinh tế - xã hội và môi trường vùng ngập lũ ĐBSCL do Đào Công Tiến chủ biên (2022); các nghiên cứu của Lê Anh Tuấn như Chuyện lúa vụ 3 ở Đồng bằng sông Cửu Long (2015) và Tài nguyên nước Đồng bằng sông Cửu Long: Hiện trạng và giải pháp sử dụng bền vững (đồng tác giả cùng Huỳnh Vương Thu Minh, Nguyễn Thanh Bình, 2016).
  • Địa chí các địa phương: Cửu Long địa chí của Trần Thanh Phương (1988); Địa chí Long An của Trần Thạch Phương (1989); Địa chí Đồng Tháp Mười của Trần Bạch Đằng (1996); Địa chí Cần Thơ (2002); Địa chí tỉnh Sóc Trăng (2012); Địa chí tỉnh Đồng Tháp (2014).
  • Luận văn, luận án chuyên ngành: Luận án tiến sĩ Kỹ thuật Thủy lợi của Tô Quang Toản (2015) về tác động của thượng lưu đến dòng chảy và xâm nhập mặn; luận án tiến sĩ Lịch sử của Trần Hữu Thắng (2018) về Thủy nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến năm 1945; luận văn thạc sĩ của Phạm Hồng Thắng (2012) về thủy nông Tiền Giang; luận văn tốt nghiệp của Hồ Đình Phương (1970 - 1973) về thủy nông Định Tường; luận văn của Nguyễn Tấn Hữu về thủy nông vùng Tiền Giang.
  • Bài báo và kỷ yếu hội thảo khoa học: Bài viết của Tô Quang Toản (1998), Nguyễn Đình Vượng (2001), Đinh Quang Hải (2020) trên Tạp chí Thủy lợi, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử; kỷ yếu Hội thảo Lịch sử hình thành và phát triển kênh Vĩnh Tế (An Giang, 1999); Hội thảo Biến đổi khí hậu và tác động của nó đối với môi trường và sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL (Đại học An Giang, 2017); Hội thảo Phát triển nông thôn ĐBSCL từ thực tiễn đến chính sách (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, 2018).

Nhóm công trình của các tác giả và tổ chức quốc tế

  • Thời kỳ thuộc Pháp: Các khảo cứu của Tổng Thanh tra Công chính Đông Dương Pouyenne như Voies d'eau de la Cochinchine (1911), Les travaux publics de l’Indochine; ấn phẩm Dragages de Cochinchine - Canal Rach Gia - Ha Tien của Toàn quyền Đông Dương (1930); hồi ký L’Indochine francaise của Paul Doumer (2016).
  • Giai đoạn 1954 - 1975 và sau 1975: Các báo cáo kỹ thuật của Nhóm Phát triển Đồng bằng Hà Lan và Ủy ban Điều phối Điều tra Hạ lưu sông Mê Kông (Dutch Delta Development Group, 1973, 1974); các dự án viện trợ kỹ thuật của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA, thành lập 1974/2003, nối lại viện trợ từ 1992, triển khai dự án thích ứng biến đổi khí hậu năm 2013); các hiệp định và tài liệu của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế (MRC, thành lập năm 1995).

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề thủy nông thuần túy dưới góc độ kỹ thuật thủy lợi (tính toán lưu lượng, xâm nhập mặn, kết cấu công trình), hoặc chỉ khảo sát lịch sử khai hoang trong các giai đoạn trước năm 1945, hay giới hạn trong phạm vi hẹp của từng tỉnh, từng tiểu vùng. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về lịch sử mạng lưới thủy nông toàn vùng Tây Nam Bộ trải dài qua hai chế độ chính trị từ năm 1954 đến năm 2015. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng tiến trình lịch sử, phân tích mối quan hệ giữa chính sách quản lý, hoạt động xây dựng thực tế và các chuyển biến kinh tế - xã hội cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét sự phát triển của hệ thống thủy nông trong mối quan hệ hữu cơ với điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất và bối cảnh chính trị - xã hội của từng thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Là hai phương pháp chủ đạo. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện các sự kiện đào kênh, đắp đê, xây cống theo đúng trình tự thời gian và không gian lịch sử cụ thể; phương pháp logic hỗ trợ khái quát hóa, hệ thống hóa bản chất của các chính sách và quy luật vận động của hệ thống thủy nông.
    • Phương pháp giám định, phê phán tư liệu: Được sử dụng để kiểm tra, đối chiếu độ tin cậy của các văn bản hành chính, hồ sơ lưu trữ từ các chế độ khác nhau.
    • Phương pháp liên ngành: Kết hợp khảo sát thực địa, điền dã, phỏng vấn nhân chứng lịch sử và cán bộ quản lý thủy nông (có ghi âm, chụp ảnh tại các tuyến kênh Vĩnh Tế, Xà No, T4, T5, T6, cống ngăn mặn Kiên Giang, An Giang, Hà Tiên); phân tích bản đồ địa hình, bản đồ quy hoạch thủy nông; phương pháp thống kê, tổng hợp và so sánh số liệu kinh tế - kỹ thuật.
  • Nguồn tư liệu:
    • Tài liệu lưu trữ gốc: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh) gồm các phông: Phủ Thủ tướng, Bộ Công chánh và Giao thông, Phủ Tổng ủy Dinh Điền và Nông vụ, Bộ sưu tập hình ảnh; Phông Thủy nông, Thủy lợi, Đê điều, Kênh rạch tại Thư viện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
    • Tài liệu xuất bản và niên giám thống kê: Báo cáo của các Bộ, ngành, số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở, Niên giám thống kê các tỉnh ĐBSCL, tạp chí chuyên ngành.
    • Tài liệu điền dã thực tế: Ghi chép khảo sát và tư liệu ảnh tại các địa bàn trọng điểm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 tổng hợp toàn diện các nguồn học liệu trong và ngoài nước, phân định rõ các nhóm nghiên cứu về kinh tế làng xã, địa chí, lịch sử khai hoang, kỹ thuật công trình thủy lợi và tài nguyên nước. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước là cơ sở tư liệu quý báu, song chưa có sự kết nối lịch sử liền mạch giữa hai giai đoạn trước và sau năm 1975 cho toàn vùng Tây Nam Bộ, từ đó xác lập tính cấp thiết và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.

Chương 2: Hệ thống thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1954 đến năm 1975

Chương này trình bày bức tranh tổng thể về điều kiện tự nhiên Tây Nam Bộ (diện tích 100.069 km², dân số 13.035.000 người vào năm 1975; gồm 8 nhóm đất chính, trữ lượng nước ngầm khoảng 84 triệu m³/giây, 2 triệu ha ngập lũ định kỳ và 1,7 triệu ha bị nhiễm mặn).

Tác giả khái quát lịch sử thủy nông trước năm 1954 qua hai thời kỳ:

  • Thời nhà Nguyễn (1802 - 1867): Tổ chức đào vét thủ công có quy mô lớn, tiêu biểu với kênh Vũng Gù / Bảo Định Hà (1705, dài kết nối Vàm Cỏ Tây với Mỹ Tho, rộng 32m, sâu 4m), kênh Thoại Hà (1818, dài 12.410m, rộng 20m), kênh Vĩnh Tế (1819 - 1824, dài 91km, rộng 25m, sâu 3m). Diện tích canh tác đến năm 1890 đạt 763.000 ha.
  • Thời thuộc Pháp (1867 - 1945): Ứng dụng xáng múc cơ giới qua 3 đợt đấu thầu lớn (1894 - 1904, 1904 - 1913, 1913 - 1918), đào đắp 1.300 km kênh chính và 2.500 km kênh phụ. Các công trình tiêu biểu: mở rộng kênh Bảo Định (1866, dài 30km, rộng 30m, sâu 7 - 9m), kênh Chợ Gạo (1877, dài 12km, rộng 30m), kênh Xà No (1901 - 1903, dài 32km, mặt rộng 60m, đáy rộng 40m), kênh Tổng đốc Lộc (1896 - 1897). Đến năm 1930, diện tích đất ruộng tăng lên 2.000.000 ha.
  • Giai đoạn kháng chiến (1945 - 1954): Duy trì và tu bổ hệ thống phục vụ tự túc lương thực, song còn hạn chế do hơn 1.400.000 ha bị ngập lũ chưa kiểm soát, hơn 500.000 ha tại Đồng Tháp Mười và 700.000 ha ven biển Tứ giác Long Xuyên bị hoang hóa do chua phèn và xâm nhập mặn.
Tiêu chí Thời nhà Nguyễn (1802 - 1867) Thời thuộc Pháp (1867 - 1945)
Phương thức thi công Thủ công (cuốc, xẻng, quang gánh, mai, phảng, sọt, ky) Cơ giới hóa hiện đại (xáng múc cơ khí) qua đấu thầu
Công trình tiêu biểu Kênh Bảo Định (1705), Thoại Hà (1818), Vĩnh Tế (1819) Kênh Chợ Gạo (1877), Tổng đốc Lộc (1896), Xà No (1901)
Quy mô đạt được Rộng 20 - 40m, sâu 3 - 5m; diện tích lúa 763.000 ha (1890) 1.300 km kênh chính, 2.500 km kênh phụ; ruộng đạt 2.000.000 ha

Trong giai đoạn 1954 - 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa xác định chính sách thủy nông kết hợp công lộ và quân sự. Các chính sách và dự án cụ thể gồm:

  • Bản Kế hoạch phát triển giao thông thủy nông, công lộ, quân sự Nam Phần Việt Nam (1961): Chủ trương đào kênh đắp lộ, xây dựng mạng lưới hình rẻ quạt, lấy vùng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Quản Lộ - Phụng Hiệp làm trọng tâm khai thác nông nghiệp và củng cố an ninh.
  • Chương trình phát triển ĐBSCL (1969): Đề xuất quy hoạch tổng thể 6 vùng lớn, kết hợp chống ngập lụt, ngăn mặn và dẫn thủy nhập điền, dự kiến kiểm soát lũ cho 425.000 ha tại Châu Đốc, An Giang với dự toán khoảng 400 triệu USD.
  • Các dự án nạo vét cụ thể:
    • Tỉnh Kiên Giang: Dự án vét kênh Rọc - Bà Ke từ Liên Tỉnh lộ 8 đến kênh Chưng Bầu (Khế ước tương thuận ký ngày 03/05/1957 giữa Trần Ngọc Oanh và nhà thầu Trần Văn Tự), hoàn thành trong 45 ngày, kinh phí 2.237.250 đồng.
    • Vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp: Đề án khảo cứu dẫn thủy nhập điền theo Công văn số 4541-CC ngày 01/10/1957.
    • Vùng U Minh Thới Bình (An Xuyên): Kế hoạch nạo vét kênh rạch thoát nước mưa, ngăn mặn (tờ trình ngày 09/10/1957), kinh phí 45 triệu đồng trích từ ngân khoản Phủ Tổng ủy Di cư viện trợ Mỹ.
    • Khu vực Đồng Tháp Mười: Chương trình đào kênh khai thác thủy nông (Công văn số 5826-CC ngày 09/12/1957) với 50 triệu đồng từ Quỹ Di cư. Đến năm 1959, triển khai nạo vét kênh tắt Tháp Mười (xáng Bạc Liêu thực hiện 12km440, khối lượng 372.439 m³), kênh Tháp Mười (3 xáng Bạc Liêu, Sóc Trăng, Rạch Giá nạo vét 42km670, khối lượng 1.250.000 m³, kinh phí 7,8 triệu đồng), trùng tu kênh Cái Lớn - Sông Trẹm (xáng Sóc Trăng và Cần Thơ thực hiện 33km550, khối lượng 1.100.000 m³, kinh phí 9,2 triệu đồng).
    • Tỉnh Ba Xuyên: Khảo sát thủy nông tại Ngân Rô (24.000 USD) và Mỹ Phước (120.000 USD) theo Công văn số 3661/CC (1959), huy động viện trợ từ USOM và Chính phủ Pháp (22.000 quan khảo sát toàn diện, 35.000 quan lập hồ sơ dự án do hãng Sogréah đảm nhận).
    • Tỉnh Tân An: Dự án dẫn thủy nhập điền do Liên Hiệp Quốc tài trợ 215.000 USD (tháng 3/1974).
  • Ngân sách và quản lý: Luật số 8/57 ban hành ngân sách tài khóa 1957 trị giá 14.159.990.000 đồng, trong đó dành 390.000.000 đồng cho chương trình công chánh đặc biệt và ưu tiên 2/3 ngân sách cho các tỉnh Nam Phần. Mặc dù đạt được những kết quả trong mở mang diện tích canh tác và cải tạo giao thông, mạng lưới thủy nông thời kỳ này vẫn mang tính chất cục bộ, phụ thuộc nguồn viện trợ bên ngoài và bị gián đoạn do chiến tranh.

Chương 3: Hệ thống thuỷ nông vùng Tây Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2015

Chương 3 tái hiện công cuộc kiến thiết thủy lợi sau ngày đất nước thống nhất. Hệ thống quản lý được kiện toàn từ Trung ương (Bộ Thủy lợi, sau là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đến các sở ban ngành địa phương và các công ty khai thác công trình thủy lợi. Tiến trình đầu tư chia làm 3 thời kỳ:

  • Thời kỳ 1975 - 1985: Tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục các trục kênh cũ, phát động phong trào toàn dân làm thủy lợi, đào đắp hàng triệu mét khối đất bằng thủ công kết hợp cơ giới nhẹ nhằm thau chua rửa phèn cục bộ.
  • Thời kỳ 1986 - 1996: Thực hiện đường lối Đổi mới, chuyển từ tư duy chống lũ sang chủ trương "sống chung với lũ". Bắt đầu triển khai các công trình kiểm soát lũ lớn, mở rộng kênh trục thoát lũ từ Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên ra biển Tây.
  • Thời kỳ 1997 - 2015: Giai đoạn quy hoạch bài bản với các công trình quy mô lớn. Các trục kênh thoát lũ chính như kênh T4, T5 (kênh Võ Văn Kiệt), T6 được thi công, đưa nước lũ từ sông Tiền, sông Hậu thoát nhanh ra vịnh Thái Lan, giảm ngập cho vùng thượng và cung cấp nước ngọt rửa phèn cho vùng hạ lưu. Đồng thời, hàng loạt hệ thống ngăn mặn giữ ngọt như cống - đập Ba Lai, hệ thống kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao, các tuyến đê bao khép kín bảo vệ lúa vụ 3 và vùng cây ăn trái, hệ thống thủy lợi Bán đảo Cà Mau được xây dựng đồng bộ.
  • Hạn chế: Công tác đầu tư còn thiếu đồng bộ giữa thủy nông đầu mối và thủy nông nội đồng; hiện tượng bồi lắng kênh mương diễn ra nhanh; xung đột nguồn nước giữa vùng trồng lúa (nước ngọt) và vùng nuôi tôm (nước mặn/lợ); biến đổi dòng chảy thượng nguồn Mê Kông tạo ra những thách thức mới.

Chương 4: Tác động của hệ thống thủy nông đối với sự phát triển kinh tế, xã hội vùng Tây Nam Bộ từ năm 1954 đến năm 2015

Chương này lượng hóa và phân tích tác động sâu rộng của mạng lưới thủy nông:

  • Tác động kinh tế:
    • Nông nghiệp: Làm thay đổi căn bản cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi diện tích lúa mùa nổi năng suất thấp sang canh tác lúa 2 vụ, 3 vụ năng suất cao. Biến Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên từ vùng đất hoang hóa ngập phèn thành vựa lúa chủ lực, đóng góp quyết định vào sản lượng lúa cả nước và kim ngạch xuất khẩu gạo.
    • Thủy sản và vườn cây ăn trái: Tạo điều kiện phát triển vùng nuôi tôm nước lợ ven biển (Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang) và nuôi cá tra, cá ba sa nước ngọt (An Giang, Đồng Tháp), hình thành vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản tại Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long.
    • Giao thông vận tải và thương mại: Mạng lưới kênh đào đóng vai trò là tuyến giao thông thủy huyết mạch, kết nối các vùng sản xuất hẻo lánh với các đô thị trung tâm và cảng xuất khẩu (Cần Thơ, Sài Gòn), giảm chi phí logistics nông sản.
  • Tác động xã hội:
    • Tái bố trí dân cư: Hình thành các cụm, tuyến dân cư vượt lũ an toàn dọc theo các bờ kênh và đê bao, chấm dứt cảnh chạy lũ hàng năm của hàng trăm ngàn hộ dân.
    • Đời sống và dịch vụ công: Cung cấp nguồn nước ngọt sinh hoạt, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn; thúc đẩy phát triển mạng lưới y tế (gia tăng tỷ lệ bác sĩ, dược sĩ trên 1 vạn dân) và giáo dục (nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp tại vùng sâu).

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt khoa học và lý luận lịch sử: Luận án là công trình nghiên cứu lịch sử đầu tiên phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống bức tranh thủy nông vùng Tây Nam Bộ xuyên suốt 60 năm (1954 - 2015) qua hai thể chế chính trị khác nhau. Công trình làm rõ sự kế thừa, phát triển và những bước chuyển dịch về tư duy trị thủy của các chính quyền.
  2. Về mặt tư liệu: Luận án đã khai thác, giám định và hệ thống hóa khối lượng lớn tư liệu gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, tư liệu lưu trữ của ngành Thủy lợi và tư liệu thực địa điền dã, bổ sung nguồn sử liệu tin cậy cho chuyên ngành Lịch sử Việt Nam và Lịch sử kinh tế - xã hội Nam Bộ.
  3. Về mặt thực tiễn và chính sách: Luận án đúc kết các bài học lịch sử về quy hoạch thủy lợi gắn với giao thông, bài học đa dạng hóa nguồn vốn (kết hợp ngân sách nhà nước, viện trợ quốc tế và sức dân), bài học giải quyết mâu thuẫn lợi ích nguồn nước giữa các tiểu vùng sinh thái. Đây là nguồn luận cứ khoa học tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách trong việc quy hoạch phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu theo tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP.
  4. Về giáo dục và đào tạo: Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình Lịch sử địa phương tại các trường Đại học, Cao đẳng và trường phổ thông khu vực Tây Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Nguồn tư liệu lưu trữ về hoạt động thủy nông tại các vùng giải phóng, căn cứ kháng chiến ở Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1954 - 1975 còn thiếu hụt và tản mạn do điều kiện chiến tranh, khiến việc so sánh toàn diện giữa hai vùng kiểm soát trong giai đoạn này chưa đạt mức độ chi tiết như kỳ vọng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế hợp tác xuyên biên giới trong khuôn khổ Ủy hội sông Mê Kông quốc tế (MRC) trước tác động của các đập thủy điện thượng nguồn; phân tích sâu hơn mô hình quản trị thủy nông cơ sở có sự tham gia của cộng đồng (PIM) tại các tỉnh hạ lưu sông Tiền và sông Hậu trong giai đoạn sau năm 2015.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế, Địa lý nhân văn, Thủy văn học và Quản lý tài nguyên nước khi tìm kiếm nguồn tư liệu lịch sử và phương pháp tiếp cận liên ngành.
  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nông nghiệp: Cán bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh ĐBSCL trong công tác xây dựng quy hoạch hạ tầng tưới tiêu, thau chua rửa mặn và phòng chống thiên tai.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa - xã hội Nam Bộ: Cung cấp góc nhìn về sự biến đổi làng xã, sinh kế và quá trình thích ứng tự nhiên của cư dân sông nước Tây Nam Bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chia tiến trình lịch sử hệ thống thủy nông Tây Nam Bộ (1954 - 2015) thành những giai đoạn nào?

Tiến trình được phân định thành 2 giai đoạn chính:

  • Giai đoạn 1954 - 1975: Quản lý thủy nông dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa tại Nam Phần Việt Nam.
  • Giai đoạn 1975 - 2015: Quản lý thủy nông dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam sau ngày thống nhất, gồm 3 thời kỳ: 1975 - 1985 (khôi phục sau chiến tranh, thời kỳ bao cấp), 1986 - 1996 (bước đầu đổi mới, mở rộng thoát lũ), và 1997 - 2015 (công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quy hoạch thủy lợi thích ứng biến đổi khí hậu).

2. Dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1975), các dự án thủy nông tiêu biểu nào đã được phê duyệt và triển khai?

Các dự án tiêu biểu gồm:

  • Dự án nạo vét kênh Rọc - Bà Ke tại Kiên Giang (1957, kinh phí 2.237.250 đồng).
  • Dự án nạo vét thoát nước, ngăn mặn vùng U Minh Thới Bình (1957, kinh phí 45 triệu đồng).
  • Chương trình nạo vét kênh Tháp Mười, kênh tắt Tháp Mười và kênh Cái Lớn - Sông Trẹm tại Đồng Tháp Mười (1957 - 1959, tổng kinh phí trên 17 triệu đồng).
  • Khảo sát thủy nông Ngân Rô và Mỹ Phước tại Ba Xuyên (1959, sử dụng viện trợ USOM và Pháp).
  • Dự án dẫn thủy nhập điền Tân An do Liên Hiệp Quốc tài trợ (1974, trị giá 215.000 USD).

3. Phương thức thi công đào vét kênh rạch ở Tây Nam Bộ thời thuộc Pháp có điểm gì khác biệt so với thời nhà Nguyễn?

Thời nhà Nguyễn (1802 - 1867), việc đào kênh được thực hiện hoàn toàn thủ công bằng sức người (binh lính và dân phu) với các nông cụ thô sơ (cuốc, xẻng, quang gánh, mai, phảng), tổ chức theo phiên đội. Thời thuộc Pháp (1867 - 1945), công tác đào vét được cơ giới hóa bằng việc sử dụng các loại xáng múc hiện đại (như thi công kênh Xà No, Chợ Gạo) thông qua các đợt đấu thầu công trình lớn, đem lại năng suất và khối lượng đào đắp cao hơn gấp nhiều lần.

4. Các nguồn tài liệu lưu trữ chính được tác giả khai thác trong luận án là gì?

Tác giả khai thác nguồn tài liệu văn bản gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh) thuộc các phông: Phủ Thủ tướng, Bộ Công chánh và Giao thông, Phủ Tổng ủy Dinh Điền và Nông vụ; cùng phông tư liệu Thủy nông, Thủy lợi, Đê điều, Kênh rạch tại Thư viện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Ngoài ra, tác giả kết hợp nguồn tư liệu khảo sát điền dã thực tế và phỏng vấn cán bộ chuyên môn tại các địa phương.

5. Những công trình thủy nông tiêu biểu nào đã làm thay đổi diện mạo vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười sau năm 1975?

Đó là hệ thống các kênh trục thoát lũ lớn ra biển Tây gồm kênh T4, T5 (kênh Võ Văn Kiệt), T6; hệ thống kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao; các cống ngăn mặn giữ ngọt Ba Lai; cùng mạng lưới đê bao khép kín bảo vệ sản xuất lúa vụ 3 và các cụm, tuyến dân cư vượt lũ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Ngọc Huyền là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về lịch sử hệ thống thủy nông vùng Tây Nam Bộ giai đoạn 1954 - 2015. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp liên ngành và nguồn tư liệu lưu trữ gốc phong phú, luận án đã làm rõ tiến trình đầu tư, đặc điểm kỹ thuật và chính sách quản lý thủy nông qua hai giai đoạn chính trị khác nhau. Công trình không chỉ khẳng định vai trò quyết định của thủy nông trong việc thúc đẩy nông nghiệp, chuyển đổi kinh tế và ổn định xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà còn đúc kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay.