mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kỹ thuật và năng lực khai thác hệ thống đường bộ trên địa bàn TP. Chương 3: Hiện trạng và công tác quản lý, duy tu sửa chữa đường bộ trên địa bàn TP. Chương 4: Đề xuất gıảı pháp nâng cao hıệu qủa quản lý khaı thác hệ thống đường bộ trên địa bàn TP.HCM Chương 5: Kết luận và kıến nghị 1. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp để đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hệ thống đường bộ trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu tính khả thi thực tế của những giải pháp đó, góp phần từng bước nâng cao năng lực vận tải của hệ thống hạ tầng giao thông, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Hướng quy hoạch cải tạo hệ thống đường bộ trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh trong tương lai (đến năm 2030) theo hướng nâng cao hiệu quả quản lý là mục tiêu nghiên cứu của luận án này. Trong giai đoạn quá độ hiện nay, việc duy tu bảo dưỡng và cải tạo nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ hiện hữu có tính đến quy hoạch dài hạn về xây dựng và mở rộng hệ thống giao thông đường bộ trên cơ sở cải tiến phương pháp 10 quản lý là rất khả thi vì chi phí đầu tư thấp, chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng rất nhỏ không đáng kể. Vậy áp dụng phương hướng quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ hiện hữu kết hợp với cải tiến phương pháp quản lý trong thời kỳ quá độ phù hợp với quy hoạch dài hạn về hệ thống giao thông đường bộ của TP.HCM hướng tới phát triển đô thị bền vững là mục tiêu nghiên cứu của đề tài này. Phương pháp nghiên cứu: Thu thập các số liệu quản lý hệ thống đường bộ, thực trạng quản lý hệ thống đường bộ trên địa bàn TPHCM, đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả trong công tác quản lý đường bộ phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay của TP.
Nghiên cứu xây dựng kế hoạch quản lý an toàn thông suốt giao thông đường bộ, hạn chế thấp nhất tai nạn, gây mất an toàn giao thông. Kết hợp nghiên cứu lý thuyết hệ thống giao thông đường bộ đô thị với việc điều tra phân tích, đánh giá hiện trạng hệ thống giao thông đường bộ của Thành phố Hồ Chí Minh qua thực tế nghiên cứu. Từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp trong giai đoạn quá độ của Thành phố Hồ Chí Minh về cải tiến nâng cao phương pháp quản lý. Đưa ra phương án đầu tư bằng vốn vay theo hình thức ODA của Nhật (vốn hỗ trợ phát triển chính thức, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance, là một hình thức đầu tư nước ngoài) gồm 70% vốn của chính phủ Nhật và 30% vốn đối ứng của Việt Nam, để tiến hành cải tạo và nâng cao phương pháp quản lý hệ thống giao thông đường bộ nhằm giảm thiểu tình trạng kẹt xe, đồng thời nâng cao chất lượng khai thác của hệ thống đường bộ phù hợp với mục đích phát triển bền vững.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu trong nội thị Thành phố Hồ Chí Minh và các quận, huyện xung quanh có diện tích khoảng 650km2 (xem hình 1.3: Bản đồ các quận, huyện thuộc TP.Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận tiếp giáp. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long 12 Bình ở quận 9.
Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét. Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám.
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có cao độ chênh lệch rất lớn và thay đổi do hiện tượng sụt lún nền đất. Việc đo đạt, quan trắc kiểm tra cao độ địa hình cũng được quan tâm vì Thành phố Hồ Chí Minh có độ lún đất nền khá nhanh do việc xây dựng ào ạt và vấn đề khai thác nước ngầm tự phát trong những năm gần đây tăng cao. Cao độ địa hình khoảng từ +0,5 đến 30m (so với cao độ quốc gia), độ dốc địa hình của khu vực nói chung từ Bắc – Đông Bắc đến Tây – Tây Nam. Vùng phía Tây hầu như là khu vực đất thấp với cao độ mặt đất từ +0,7 đến 1,0m tiếp xúc huyện Bình Chánh.
Vùng trung tâm là khu vực đất cao, cao độ mặt đất từ +2,0 đến +8,0m tiếp xúc khu vực gò cao như quận Gò Vấp, Hóc Môn. Vùng phía Bắc TP.HCM là khu vực đất thấp với cao độ mặt đất +0,6 đến +0,8m, nơi này chủ yếu là ruộng lúa. Vùng phía Nam TP.HCM là khu vực quận 7, huyện Nhà Bè , đất tại đây thấp, cao độ khoảng +0,6 đến 1,2m. Phía Nam hầu như là khu vực đất thấp gồm quận 2 và quận 9, cao độ mặt đất khoảng từ +0,6 đến +1,5m, hệ thống giao thông đường bộ được bảo vệ bằng hệ thống đê ngăn lũ.
Phía Bắc là vùng đất gò thuộc quận Thủ Đức với cao độ mặt đất từ +2,0 đến +30,0m. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN Về NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KỸ THUẬT VÀ NĂNG LỰC KHAI THÁC HỆ THỐNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TP. Cơ sở lý luận của hệ thống giao thông đường bộ: 2. Một số khái niệm giao thông đô thị và mạng lưới đường phố: 2.
Khái niệm: - Quan niệm về hệ thống giao thông: Giao thông : là việc đi lại từ nơi này sang nơi khác của người và phương tiện chuyên chở. Giao thông là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người. Sự phát triển giao thông mang tính lịch sử và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ. Giao thông phát triển gắn liền với sự phát triển của những con đường các loại khác nhau bao gồm: đường thuỷ, đường bộ, đường sắt, đường sông và đường hàng không.
Nhưng những quốc gia có hệ thống sông ngòi ít và không có đường bờ biển thì giao thông đường bộ lại đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mỗi quốc gia có điều kiện tự nhiên khác nhau, mức độ phát triển kinh tế khác nhau. Vì vậy, nhu cầu phát triển hệ thống giao thông đường bộ cũng có sự khác nhau. Với những nước có điều kiện địa hình thuận lợi, kinh tế phát triển cao có thể phát triển được tất cả các phương thức vận tải, thì khối lượng hàng hoá và hành khách vận chuyển của quốc gia đó sẽ chia sẻ cho các phương thức vận tải nhưng giao thông đường bộ vẫn là phương thức vận tải không thể thiếu được bởi vì: khi nền kinh tế đã phát triển.
thì sản xuất không còn là sản xuất nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp, khép kín mà sản xuất có tính chuyên môn hoá cao, hàng hoá sản xuất nhiều, hình thành các khu công nghiệp với các mối liên kết với nhau để tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm nào đó. Vì vậy, khối lượng hàng hoá vận chuyển 14 giữa nhà máy này với nhà máy khác, khu công nghiệp này với khu công nghiệp khác, giữa vùng này với vùng khác, giữa nơi sản xuất với nơi tiêu thụ có khối lượng lớn. Trong khi đó, giao thông đường bộ có ưu điểm mà các phương thức vận tải khác không có được, đó là tính cơ động cao, có khả năng vận chuyển từ cửa đến cửa và phù hợp với việc vận chuyển hàng hoá và hành khách trong cự ly ngắn.1: Giao thông đường bộ phát triển thì các hạ tầng khác như nước sạch, điện lực, cáp viễn thông, cáp truyền hình, ống ga. cũng phát triển theo để phục vụ dân cư hai bên đường.
Khi kinh tế đã phát triển đến trình độ và quy mô như hiện nay, nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách tăng rất nhanh. Điều đó đòi hỏi hệ thống giao thông đường bộ phải phát triển để đáp ứng được nhu cầu vận tải và giao thông. Hơn nữa, giao thông đường bộ là yếu tố có tính tiền đề phát triển văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần của con người, đảm bảo công bằng xã hội, đưa con người tiếp cận với văn minh. Văn minh sẽ không 15 đến được với dân cư ở những vùng mà mạng lưới giao thông đường bộ chưa phát triển.
Nhiệm vụ nhu cầu phát triển văn hoá, xã hội cũng đòi hỏi, thúc đẩy sự phát triển của giao thông đường bộ (xem hình 2. Giao thông đường bộ phát triển làm cho nền kinh tế quốc dân và kinh tế của các địa phương phát triển, từ đó, xoá bỏ dần sự cách biệt giữa đô thị và vùng xâu vùng xa, giữa thành thị và nông thôn, công nhân và nông dân nhờ đó đảm bảo được sự công bằng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội xét trên phạm vi cả nước. Như vậy nhu cầu đi lại của hoạt động sản xuất hàng hoá, nhu cầu chính trị, văn hoá, quốc phòng - an ninh. là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển hệ thống giao thông đường bộ và khi hệ thống giao thông đường bộ phát triển thì có tác động tích cực đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng.
- Hệ thống giao thông đường bộ: Đường bộ: đường đi trên đất liền cho người và xe cộ. Từ đó, có thể suy ra, hệ thống giao thông đường bộ là tập hợp các con đường trên đất liền có chức năng đảm bảo cho người và các phương tiện giao thông - vận tải thực hiện việc di chuyển người, hàng hoá, đồ vật từ nơi này đến nơi khác. Hệ thống giao thông đường bộ của một địa phương, của một nước luôn là một hệ thống mở (nối liền với các hệ thống khác) và được hoàn thiện, phát triển không ngừng. Như vậy, thực chất phát triển hệ thống giao thông đường bộ là phát triển hệ thống đường đi trên đất liền của mỗi quốc gia.