CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về đất, đặc điểm và vai trò của đất đai 1.
Khái niệm về đất Trước khi tìm hiểu khái niệm về đất đai, cần phải hiểu được khái niệm về đất. Về mặt thuật ngữ khoa học hai khái niệm này có sự phân biệt nhất định, cần phải phân biệt được “đất” và “đất đai”. Trong tiếng Anh đất tương đương với từ “soil” có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó, còn đất đai tương đương với từ “land” có ý nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ. Theo nhà bác học người Nga V.Docuchaev (1846 – 1903): Đất trên bề mặt lục địa là một vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương.Viliam (1863-1939) Viện sĩ thổ nhưỡng nông hóa Liên Xô (cũ) thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng.
Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa "đá mẹ" và đất là độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là đất. Độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể cung cấp nước, thức ăn và đảm bảo các điều kiện khác để cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất[1]. Theo Dale & McLaughlin (1988) đất là “bề mặt của trái đất, vật chất phía dưới, không khí phía trên và tất cả những thứ gắn liền với đất”[15].Mác lại cho rằng: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”. Còn khái niệm về đất đai được hiểu đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động, đồng thời là sản phẩm lao động.
Khái niệm đất đai bao hàm nội dung mặt bằng lãnh thổ sử dụng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đất đai là bộ phận bao gồm các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Hay có khái niệm khác là “đất đai là một tổng thể vật chất gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”. Có thể thấy rằng có rất nhiều khái niệm về đất, đất đai và khái niệm đầy đủ, phổ biến nhất hiện nay về đất đai đó là: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó Luan van 4 như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa.
Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người[11]. Đặc điểm của đất đai Đất đai giới hạn về số lượng (diện tích). Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư liệu sản xuất khác không ngừng được tăng lên về số lượng, riêng số lượng của đất đai bị giới hạn trong phạm vi ranh giới của lục địa[11].Bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, diện tích đất đai do kích thước của quả đất quyết định. Trải qua nhiều lần biến hóa địa chất như hoạt động núi lửa, động đất, hoạt động tạo núi, sự xâm thực của gió, mưa,… và các hoạt động của con người nhưng tất cả các hoạt động này chỉ làm thay đổi hình thái của đất đai, ảnh hưởng tới chất lượng còn tổng lượng của đất đai thì không hề thay đổi.
Trong khi đó, số lượng các tư liệu sản xuất khác sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng của quá trình tái sản xuất, tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật con người cũng không thể làm tăng thêm được diện tích đất đai. Do vậy việc sử dụng hợp lý, triệt để đất đai và không ngừng làm tăng thêm hệ số sử dụng đất chính là một trong những biện pháp vô cùng quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các thành phần kinh tế,. và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sử dụng đất đai có cơ sở khoa học.
Đất đai có vị trí cố định trong không gian. Đất đai là cố định về vị trí, không thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Đây là tính chất đặc thù của đất, làm cho những mảnh đất ở những vị trí khác nhau có giá trị là không giống nhau. Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế.
Khác với các tư liệu sản xuất khác là có thể thay thế trong quá trình sản xuất, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế đặc biệt trong nông lâm nghiệp. Đất có khả năng tăng tính sản xuất.Trong quá trình sản xuất, mọi tư liệu sản xuất khác đều bị hao mòn, hư hỏng và dần dần bị đào thải để thay thế vào đó là một tư liệu sản xuất khác tốt hơn, hiện đại hơn và phù hợp hơn.Riêng đất, nếu xét về mặt không gian thì đất là tư liệu vĩnh cửu, không chịu sự phá hủy của thời gian. Luan van 5 Ngoài các đặc điểm trên đất đai còn có đặc điểm là sự chiếm hữu, sở hữu đất đai. Sự chiếm hữu, sở hữu đất đai được quy định trong luật đất đai.
Vai trò của đất đai Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và các công trình thuỷ lợi khác. Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, xây dựng.
Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định, là thước đo sự giàu có của một quốc gia. Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và như là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng. Với vai trò đặc biệt của mình cùng với các đặc điểm đặc trưng của đất đai, càng đòi hỏi việc sử dụng đất đai tiết kiệm và hợp lý. Khái niệm chung về khoáng sản và hoạt động khoáng sản 1.
Khái niệm khoáng sản Theo từ điển địa chất thì khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân. Dưới góc độ pháp luật,Luật Khoáng sản 2010quy định, “Khoáng sảnlà khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”[19]. Như vậy, khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên hàng nghìn năm ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất.Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia. Với những giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản đòi hỏi phải có những chính sách quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
Phân loại khoáng sản Để phân loại khoáng sản có nhiều cách khác nhau, có thể phân loại theo chức năng sử dụng, trạng thái vật lý, nguồn gốc, mục đích,… Theo chức năng sử dụng khoáng sản được chia làm 3 nhóm chính: khoáng sản kim loại (sắt, vàng, mangan,…); khoáng sản phi kim loại (đá vôi, cát, sét,…); khoáng sản cháy (than, dầu khí,…). Theo trạng thái vật lý chúng được chia ra làm khoáng sản rắn (quặng kim loại đen, quặng kim loại màu, đá,…); khoáng sản lỏng (dầu mỏ, nước khoáng,…); khoáng sản khí (khí đốt, khí trơ,…). Theo nguồn gốc chia ra khoáng sản nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất) và khoáng sản ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất). Theo mục đích và công dụng có thể chia khoáng sản thành các loại: khoáng sản nhiên liệu hay nhiên liệu hóa thạch; khoáng sản phi kim; khoáng sản kim loại; nhiên liệu đá màu; thủy khoáng; nhiên liệu khoáng – hóa.
Hoạt động khoáng sản Theo Luật Khoáng sản 2010,hoạt động khoáng sảnbao gồm hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản. - Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm xác định trữ lượng, chất lượng khoáng sản và các thông tin khác phục vụ khai thác khoáng sản. - Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. Khai thác khoáng sản còn được định nghĩa là hoạt động khai thác các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than.
Các vật liệu khai thác từ mỏ khoáng sản như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ khoáng sản.