Chương 1: Hiệu quả hoạt động nghiệp vụ thị trường mở trong bối cảnh nợ xấu tăng cao. 3 Chương 2: Thực trạng hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt nam trong bổi cảnh nợ xấu Ngân hàng tăng cao hiện nay. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ thị trường mở tại ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh nợ xấu Ngân hàng. V 4 CHUÔNG 1 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIỆP v ụ THỊ TRƯỜNG MỎ TRONG BÓI CẢNH NỌ XẤU TĂNG CAO 1.
KHÁI QUÁT NGHIỆP v ụ THỊ TRƯỜNG MỎ 1. Khái niệm về nghiệp vụ TTM v Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) là hoạt động do NHTW thực hiện việc mua vào hay bán ra các giấy tờ có giá với các đối tác trên thị trường mở nhằm thực hiện CSTT quốc gia. Thông qua hoạt động này NHTW tác động trực tiếp đến cơ số tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó tác động đến lượng tiền cung ứng cả về mặt lượng và mặt giá cả. Các đối tác trong giao dịch NVTTM có thể là các NHTM, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác.
Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM) là nghiệp vụ NHTW thực hiện mua bán giấy tờ có giá như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, trái phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi. Khi NHTW mua GTCG trên thị trưởng mở số tiền NHTW trả sẽ làm tăng cơ số tiền tệ qua đó làm tăng khối lượng tiền cung úng. Ngược lại khi NHTW bán giấy tờ có giá cho TCTD sẽ làm giảm cơ số tiền tệ nghĩa là giảm khối lượng tiền cung ứng. Do vậy, thị trường này có khả năng tiếp nhận được một lượng rất lớn nghiệp vụ của NHTW mà không làm cho giá cả biến động mạnh.
NVTTM là công cụ CSTT chủ yếu và quan trọng của NHTW vì nó là yếu tố quyết định nhất đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ dẫn đến biến động trong cung ứng tiền tệ. NVTTM là một trong những cách quan trọng để NHTW phát hành tiền vào lưu thông hoặc rút bót lượng tiền trong lưu thông về thông qua mua hoặc bán các các loại GTCG. Qua nghiệp vụ mua bán này NHTW làm tăng hay giảm dự trữ của các 5 NHTM, tác động đến khả năng tín dụng của các ngân hàng. Tên của thị trường là “Thị trường mở” (Open Market Operation) cho thấy đây là một thị trường có tính chất mở, có nghĩa là đa dạng về đối tác tham gia thị trưòng và đa dạng về chủng loại hàng hóa tham gia trên thị trường.
Thị trường mở các nước khác nhau về phạm vi, về loại hình và thm hạn của các công cụ được giao dịch trên thị trường. Đối với các hàng hóa được sử dụng trên TTM bao gồm GTCG ngắn hạn và thường thành viên tham gia là các ngân hàng. Khi đó thị trường mở là một bộ phận của TTTT. Còn GTCG dài hạn cũng được sử dụng trên thị trường này.
Do đó nếu xét theo thời hạn của GTCG thì TTM gồm cả một phần của thị trường chứng khoán. Vì vậy các quy định về hàng hóa và thành viên tham gia giao dịch trong NVTTM sẽ quyết định khái niệm cụ thể về NVTTM ở từng nước. Có hai loại nghiệp vụ ĨTM: (1) NVTTM năng động nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ. (2) NVTTM thụ động nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ.
Nghiệp vụ TTM là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. Nghiệp vụ TTM do NHTW chủ động thực hiện khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vôn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn, chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện NVTTM theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết. NVTTM có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch.
NHTW có thể thực hiện NVTTM ở quy mô lớn/nhỏ (khối lưọng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG. Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều hành CSTT trong tưong lai là nới lỏng hay thắt 6 chặt. Đặc biệt khi thực hiện NVTTM thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị trường. Các thành viên tham gia nghiệp vụ TTM ’ Dựa trên mục đích giao dịch, có thể phân các tác nhân trên thị trường mở thành hai nhóm: NHTW, các TCTD, định chế tài chính, quĩ đầu tư, công ty.
Tuy nhiên, theo nguyên tắc NVTTM là thị trường không giới hạn người tham gia, mọi nhà đầu tư đều có thể là đối tác giao dịch với NHTW nếu thoả mãn những tiêu chuấn cụ thể của NHTW ở các nước. Các tiêu chuẩn được đặt ra nhằm vào đáp ứng hai mục đích: - Các đối tác phải đảm bảo được độ tin cậy nhất định. - Việc giao dịch với cac đối tác đó có hiệu quả xét ở khía cạnh can thiệp vào thị trường tiền tệ của NHTW. Ngân hàng Trung ương NHTW với vai trò tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động NVTTM.
NHTW nghiên cứu ban hành các chính sách và tạo điều kiện hành lang pháp lý cho sự ra đời, hoạt động của thị trường cũng như thực hiện các biện pháp hỗ trợ sự phát triển của thị trường, tạo điều kiện mở rộng các công cụ cho thị trưòng, hoàn thiện cơ sở vật chất, xây dựng các quy định và tiêu chí thực hiện giao dịch, giám sát hoạt động của thị trưòng. NHTW cũng thu thập, công bố và phổ biến các thông tin về thị trường; đảm bảo hệ thống thanh toán an toàn và trôi chảy. Trên cơ sở dự báo các diễn biến tiền tệ, tình hình vốn khả dụng của các TCTD. NHTW quyết định thời điểm mua hoặc bán, khối lượng, phương thức thực hiện, thời hạn mua bán và chủng loại giấy tờ có giá.
NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ 7 phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Thông qua hoạt động của nghiệp vụ TTM, NHTW tham gia NVTTM không phải là mục tiêu kinh doanh mà ngoài việc điều tiết vốn khả dụng của hệ thống NHTM , gián tiếp tác động đến lãi suất thị trường làm cho mục tiêuv CSTT đi theo định hướng đã định. Các Ngân hàng Thương mại Các NHTM là thành viên quan trọng tham gia NVTTM của NHTW xét trên hai phương diện: độ tin cậy và tính hiệu quả. Các NHTM là trung gian tài chính lớn nhất có mạng lưới hoạt động rộng, gắn kết thành hệ thống qua trung tâm thanh toán nên mỗi sự thay đổi dự trữ của các NHTM sẽ gây ảnh hưởng nhiều đến cung ứng tiền tệ.
Trong điều kiện tỉ trọng dư nợ ngân hàng chiếm đa số trong thị trường tài chính ở cac nước phát triển thì ảnh hưởng này càng mang tính quyết định đến hiệu quả CSTT. Do đó sự tham gia thị trường của các NHTM trong nghiệp vụ TTM càng thế hiện tính ưu việt của nó từ đó nhằm điều hoà vốn khả dụng, bảo đảm khả năng thanh toán, phân tán rủi ro. Giúp NHTM tìm kiếm cơ hội về nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hoặc NHTM thực hiện việc mua bán chứng khoán. NHTM đóng vai trò quan trọng cung ứng vốn cho nền kinh tế, vừa là người cho vay và đi vay trên thị trường tiền tệ.
Mặt khác, các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà mức dự trữ ngân quỹ đế đảm bảo khả năng thanh toán, cho vay khoản vốn dư thừa đế hưởng lãi. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Các tổ chức này bao gồm: các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư và các định chế tài chính khác. Mục đích của các tổ chức này khi tham gia NVTTM là để kiếm lợi nhuận qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua, bán các GTCG ngắn hạn hoặc dài hạn. Các tổ chức này thường sở hữu khối lượng 8 lớn các GTCG và họ thường xuyên thay đổi cơ cấu danh mục đầu tư nhằm đảm bảo mức sinh lợi cao nhất và rủi ro dự tính thấp nhất cho vốn đầu tư.
Hành vi của NHTW khi giao dịch với các đối tác này trên thị trường mở sẽ có tác động trực tiếp tới khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất thị trường qua sự biến động giá cả của loại giấy tờ có giá được giao dịch. Các nhà giao dịch sơ cấp Các giao dịch nghiệp vụ TTM tại các nước phần lớn thực hiện thông qua vai trò của các nhà giao dịch sơ cấp. Các nhà giao dịch sơ cấp này tham gia NVTTM với tư cách là người trung gian và hưởng lợi do chênh lệch giá mua bán. Đe thực hiện được điều này các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc.
Họ không kinh doanh cho trạng thái (hoặc tình hình) vốn của mình, thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch trên thị trường thường hoạt động dưới tư cách công ty. Đe giảm thiểu rủi ro tín dụng, thanh toán và giao nhận đối với các giao nhận đối với các giao dịch, các NHTW thường đưa ra tiêu chí chọn lựa các đối tác thực hiện nghiệp vụ NHTM dưới sự giám sát chính thức của các đơn vị giám sát nghiệp vụ hoặc là các nhà môi giới giao dịch có đăng ký với uỷ ban chứng khoán và hối đoái. Giao dịch thông qua môi giới sẽ giúp cho cả người mua và người bán tiết kiệm được chi phí tìm hiểu nhau, tránh tình trạng thông tin không cân xúng, lựa chọn đối nghịch và các yêu cầu của họ cũng được đáp ứng với mức độ cao hon.3 Các loại hàng hóa giao dịch nghiệp vụ TTM Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở là những loại giấy tờ có giá, có tính thanh khoản cao được sử dụng trong các giao dịch mua vào hoặc bán ra 9 của NHTW trên TTM.