CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ c ơ BẢN VÈ THẺ VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH THẺ CỦA NHTM 1. TỎNG QUAN VÈ THẺ 1. Sự ra đời và quá trình phát triển của thẻ 1. Sự ra đời của thẻ Ngân hàng Thẻ Ngân hàng là một công cụ thanh toán đặc biệt và tiện lợi trong nền kinh tể của các nước.
Thẻ ngân hàng được thừa nhận là ra đời vào thời kỳ hưng thịnh của nền kinh tể thế giới - những năm 30 của thế kỷ XX và đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1930. Tại Mỹ, năm 1914, chiếc thẻ đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện khi các đại lý bán lẻ cung cấp cho khách hàng một khoản tín dụng (mua hàng trước, trả tiền sau). Điển hình là công ty xăng dầu California đã cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình và nhận thấy rằng phương thức thanh toán này rất thuận tiện. Tuy nhiên thẻ lúc đó chỉ có tác dụng khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm của hãng mà không kèm theo khi gia hạn tín dụng.
Năm 1929-1930 cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra và để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng. Đe khắc phục ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này hệ thống các cửa hàng bán lẻ ở các nước phát triển đã đưa ra một hình thức bán chịu nhằm khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh thu. Lúc này các công cụ tín dụng thương mại như thương phiếu tỏ ra không thích hợp với việc triển khai đại trà phương thức bán chịu ở mọi nơi, mọi chốn, đa dạng trong thanh toán và đa phương trong sử dụng. Nhu cầu đặt ra là cần có một loại công cụ tín dụng có thể được sử dụng linh hoạt hơn đế có thể thanh toán tại tất cả các điểm bán hàng.
Điều này đã thúc đẩy các tố chức tài chính vào cuộc, trong đó phải kể đến Ngân hàng. Dạng đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge - it của ngân hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ năm 1946 đã cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các cố phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp lại phiếu cho Ngân hàng Biggins, Ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch đó cho đại lý và thu tiền về từ khách hàng. Hệ thống này là tiền đề đầu tiên cho việc phát hành thẻ tín dụng Ngân hàng đầu tiên của Ngân hàng Franklin National năm 1951.
Năm 1949, Frank McNamara, một thương nhân Mỹ, khi ăn tối tại nhà hàng đã phát hiện mình quên mang tiền mặt để thanh toán. Tình huống đó đã khiến ông 13 tìm ra một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Mc Namara lần đầu tiên cho ra đời loại thẻ Diners Club. Diners Club là loại thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát hành.
Năm 1993, tổng doanh sổ khoảng 7.9 tỉ USD với khoảng 1.5 triệu thẻ lưu hành. Sự phát triển của thẻ ngân hàng trên thế giới Vài năm sau sự ra đời của những loại thẻ thanh toán trên hàng loạt loại thẻ mới đã được đưa ra như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club, Carde Blanche, American Express. Năm 1958, to chức American Express phát hành thẻ Green Amex, không có hạn mức tín dụng, chủ thẻ được tiêu tiền và có trách nhiệm trả tiền vào cuối tháng. Năm 1987, Amex cho ra đời thêm 3 loại thẻ là Amex Gold, Amex Platinum và Optima có hạn mức tín dụng tuần hoàn.
Đây là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế giới, trực tiếp phát hành và quản lý thẻ, không cấp giấy phép để trở thành thành viên cho các tổ chức khác. Năm 1993, tổng doanh thu khoảng 124 tỉ USD với 35.4 triệu thẻ lưu hành và 36 triệu ĐVCT. Năm 1960, Bank of America giới thiệu thẻ Bank Americard, dạng sơ khai của thẻ Visa, được đổi tên thành thẻ Visa vào năm 1977. Tổ chức thẻ Visa quốc tế hình thành và phát triển, không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên khiến cho Visa có thể mở rộng thị trường.
Đen nay, Visa có quy mô lớn nhất thế giới với hơn 22000 thành viên ở 200 quốc gia. Cùng với Hoa Kỳ, các nước kinh tế phát triển ở châu Ẩu, ở châu Á, đặc biệt là ở Nhật Bản, thẻ Ngân hàng bắt đầu được sử dụng ngày một rộng rãi và chất lượng phát triển rất cao nhờ sự phát triển công nghệ kỹ thuật số. Năm 1961, JCB hình thành bởi ngân hàng Sanwa của Nhật, bắt đầu phát triển thành cơ sở quốc tế vào năm 1981. Hiện nay thẻ JCB được tiêu thụ trên 109 quốc gia với mục tiêu hướng vào thị trường du lịch và giải trí, đang trở thành loại thẻ cạnh tranh với Amex.
Năm 1966, để cạnh tranh với Bank of America - 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành Hiệp hội thẻ liên ngân hàng ICA và thẻ Master Charge ra đời, sau này đổi thành Master card năm 1979, trở thành tổ chức thẻ thanh toán quốc tế lớn thứ hai sau Visa. Hiện nay trên thế giới đã và đang lưu hành nhiều loại thẻ song có 5 loại thẻ thanh toán được coi là tiêu biểu hơn cả. Thẻ Dinners Club: là loại thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát hành. Thẻ American Express.
14 Thẻ Visa: hiện nay là loại thẻ có quy mô lớn nhất trên thế giới với số lượng 22 000 tổ chức thành viên ở hon 200 quốc gia, số thẻ phát hành là hon 700 triệu thẻ với 351 000 điểm rút tiền mặt và doanh số là 800 tỷ USD/năm. Thẻ JCB của Nhật Bản. Thẻ Master Card. Khái niệm, vai trò của thẻ thanh toán 1.
K h á i n iệ m Thẻ thanh toán là hình thức tiền điện tử, là phương tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến nhất trên thể giới hiện nay; là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do Ngân hàng phát hành phục vụ cho khách hàng chủ yếu trong lĩnh vực thanh toán phi mậu dịch. Thẻ cấp cho khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng và chủ thẻ. N h ư vậy x é t về bản c h ấ t và c h ứ c n ă n g ta có th ể x e m th ẻ n h ư là chiếc chìa k h ó a đ ể m ở h ò m tiền là tài k h o ả n củ a c h ủ th ẻ tạ i n g â n h à n g th ư ơ n g m ại.1: Mô tả bản chất của thẻ 1. Vai trò c ủ a th ẻ th a n h toán a, Đ ố i vớ i c h ủ th ẻ * An toàn và được bảo vệ Thẻ mang tính chất như một chiếc “ví điện tử”, dùng để chi trả thay cho tiền mặt.
Mỗi thẻ có mã riêng, được chế tạo dựa trên kĩ thuật công nghệ hiện đại, tinh vi, và khó làm giả nên tính an toàn của thẻ rất cao. Hơn nữa, thẻ còn có chữ kí của chủ thẻ, cho nên khi mua hàng hoá, dịch vụ, chủ thẻ phải kí vào hoá đơn thanh toán để người bán so sánh với chữ kí mẫu. Điều này cùng với các thông tin được mã hoá trên thẻ tạo nên hàng rào chắn trước nguy cơ bị kẻ gian lợi dụng. 15 Thêm nữa, chủ thẻ là người duy nhất có quyền sử dụng thẻ và biết số PIN.
Nếu bị mất thẻ hay lộ mã PIN thì ngay lập tức, chủ thẻ cần thông báo ngay cho ngân hàng để phong toả tài khoản thẻ. Người có thẻ khó sử dụng vì thẻ có chữ kí và đôi khi cả hình của chủ thẻ. Khi sử dụng để thanh toán chi tiêu, không phải mang theo lượng tiền mặt lớn. Với sự phát triển của các thiết bị kiểm tra hiện đại cũng như sự ra đời của thẻ thông minh, tính an toàn của thẻ thanh toán còn tiếp tục được nâng cao trong tương lai.
* Nhanh chóng và thuận tiện Với kích thước gọn nhẹ, chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo theo người và sử dụng thẻ để thanh toán các loại hàng hoá, dịch vụ thông qua một mạng lưới rộng rãi các cơ sở chấp nhận thẻ trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, tính linh hoạt và thuận tiện của thẻ còn thể hiện rõ ràng khi chủ thẻ đi du lịch hay công tác nước ngoài. Với thẻ ghi nợ, khách hàng tự thực hiện giao dịch với ngân hàng qua các máy ATM khi rút tiền mặt hoặc tại các điểm chấp nhận thẻ khi chủ thẻ thanh toán tiền mua sắm hàng hoá, dịch vụ bằng số tiền trong tài khoản của mình thay vì phải đến ngân hàng. Với thẻ tín dụng, chủ thẻ đang nhận được một khoản tín dụng tiêu dùng tự động, tức thời.
Với hạn mức tín dụng mà ngân hàng cung cấp, chủ thẻ có điều kiện mở rộng các giao dịch tài chính trong khả năng thu nhập có hạn. Đối với thẻ ghi nợ, chủ thẻ thậm chí còn được hưởng một mức thấu chi nhất định trên tài khoản tiền gửi của mình. Ngoài ra, khi sử dụng thẻ, khách hàng còn được sử dụng một số dịch vụ khác của ngân hàng. Các công ty điện lực, công ty dịch vụ điện thoại và dịch vụ Internet.
hiện cũng không còn thờ ơ với dịch vụ ATM do những tiện ích mà dịch vụ này mang lại. Thông qua dịch vụ thẻ thanh toán, khách hàng có thể trả tiền dịch vụ hàng tháng cho công ty mà không cần nhân viên công ty đến thu tận nhà. Việc quản lý nguồn thu, quản lý tài chính, quản lý nhân viên của công ty cũng trở nên đơn giản hơn và tiết kiệm hơn. Đặc biệt hiện nay việc chi trả bảo hiểm xã hội cho người hưởng lương hưu cũng đã và đang được thực hiện thông qua dịch vụ thẻ.
Điều này giúp những người già khi ốm đau hay đi vắng không phải làm giấy ủy quyền cho người thân đến chờ đợi để lĩnh lương hưu như trước, mà tiền lương đến kỳ tự động được chuyển vào tài khoản của người nhận, và họ có thể rút tiền ở bất cứ nơi đâu, tiền còn lại để trong tài khoản vừa an toàn lại vừa được hưởng lãi. 16 *Tỉết kiệm và hiệu quả Để được sở hữu một tấm thẻ, chủ thẻ phải trả khoản phí nhỏ hơn nhiều so với những tiện ích mà nó đem lại. Với thẻ ghi nợ, ngoài khoản phí phát hành thẻ ban đầu, phí phải trả cho mỗi lần giao dịch không quá 1,1%/giao dịch. Mà các giao dịch khác như xem số dư, rút tiền, chuyển khoản .là hoàn toàn miễn phí.