Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về dịch vụ thẻ thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại và hiệp định CPTPP. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam trong điều kiện triển khai hiệp định 7 CPTPP. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ thẻ thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam trong điều kiện triển khai hiệp định CPTPP. 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HIỆP ĐỊNH CPTPP 1.
Thẻ thanh toán quốc tế của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và phân loại thẻ thanh toán quốc tế 1. Khái niệm Thẻ thanh toán ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành cho khách hàng, theo đó người sử dụng thẻ có thể dùng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) hay rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán thẻ hoặc tại các máy rút tiền tự động ATM. Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, thẻ thanh toán bao gồm thẻ thanh toán nội địa và thẻ thanh toán quốc tế.
Khái niệm thẻ thanh toán quốc tế ngày nay rộng hơn: Thẻ thanh toán bao gồm tất cả các loại thẻ ngân hàng thực hiện được chức năng thanh toán, bao gồm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước. Thẻ thanh toán quốc tế chính là thẻ thanh toán nhưng có thể thực hiện chức năng thanh toán trên phạm vi toàn cầu. Với loại thẻ này, khách hàng có thể thao tác truy vấn số dư, rút, chuyển tiền, thanh toán tại hàng triệu cây ATM và điểm giao dịch trên toàn thế giới. Để nhận dạng được thẻ thanh toán quốc tế thì chỉ cần trên thẻ có in logo của một số tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế phổ biến như MasterCard, Visa… Như vậy, mỗi khái niệm có một cách diễn đạt khác nhau nhưng nói chung thẻ là một phương tiện thanh toán được lưu hành và sử dụng trong nước và trên phạm vi toàn cầu tuỳ thuộc vào từng loại thẻ thanh toán nội địa hay quốc tế.
Thẻ được sử dụng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc rút tiền mặt tại các ĐƯTM. Thẻ ra đời và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Ngoài ra, thẻ còn được sử dụng để tiếp nhận một số dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ cung ứng thông qua các thiết 9 bị chuyên dụng. Phân loại thẻ thanh toán quốc tế Theo tính chất thanh toán của thẻ - Thẻ ghi nợ- Debit Card Thẻ ghi nợ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt.
Nó cho phép khách hàng tiếp cận với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản. Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ. - Thẻ tín dụng - Credit Card Thẻ tín dụng: là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng tuần hoàn được ngân hàng cấp và chủ thẻ phải thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản dư nợ phát sinh theo quy định.
Một số thương hiệu thẻ tín dụng phổ biến là: Master Card, Visa, Amex, JCB, Diners Club, UnionPay. - Thẻ trả trước- Prepaid Card Đây là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới, khách hàng không cần phải thực hiện các thủ tục phát hành thẻ theo yêu cầu của ngân hàng như điền vào yêu cầu phát hành thẻ chứng minh tài chính,… họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng bán cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương. Đặc tính của loại thẻ này giống như mọi thẻ ghi nợ bình thường khác, chỉ có điều thẻ này chỉ được giới hạn trong số tiền có trong thẻ và chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất định tuỳ vào quy định của mỗi ngân hàng, tức là hạn mức thẻ không có tính chất tuần hoàn. Theo chủ thể phát hành thẻ - Thẻ do ngân hàng phát hành – Bank Card Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp khách hàng sử dụng một cách linh hoạt số tiền trong tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp cho vay trên tài khoản.
Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất 10 hiện nay, nó không chỉ lưu hành trong phạm vi một quốc gia mà lưu hành trên phạm vi toàn cầu. - Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành – Non-bank Card Là loại thẻ do các tổ chức du lịch và giải trí lớn, nổi tiếng trên thế giới, các tập đoàn kinh doanh, các cửa hiệu lớn… phát hành, như thẻ Dinner’s Club, Amex…Với loại thẻ này, đến ngày cuối tháng chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ số dư nợ vào tài khoản, công ty thẻ trực tiếp thực hiện nghiệp vụ thẻ và thu phí từ chủ thẻ và ĐVCNT. Theo hạn mức tín dụng - Thẻ bạch kim- Platinum Card Đây là loại thẻ với hạn mức tín dụng cao nhất trong các loại thẻ của các Ngân hàng, thường được phát hành cho khách hàng uy tín hay thân thiết với Ngân hàng. Chủ sử hữu loại thẻ này sẽ có mức tín dụng cao nhất, hạn mức tín dụng được cấp sẽ tùy thuộc vào chính sách của từng ngân hàng.
Với loại thẻ này, chủ sở hữu thường có mức thu nhập lớn, đời sống cao. Loại thẻ này cũng đem đến cho chủ sở hữu những ưu đãi, quyền lợi vượt bậc mà các loại thẻ thấp hơn không có. - Thẻ vàng – Gold Card Là loại thẻ hạng ưu, phù hợp với mức sống và nhu cầu tài chính của khách hàng có thu nhập cao, phục vụ cho thị trường cao cấp, phát hành cho các đối tượng có uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, có nhu cầu chi tiêu lớn. Thẻ có hạn mức tín dụng lớn hơn thẻ thường.
Thẻ vàng (thẻ cao cấp, thẻ hạng nhất…) là một phát triển của thẻ tín dụng và thanh toán. Loại thẻ này có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước. - Thẻ thường- Standard Card Là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ thông đại chúng. Đây là một dạng thẻ tín dụng phổ biến bởi hạn mức tín dụng thấp hơn, phù hợp với khách hàng có mức thu nhập trung bình.
Hạn mức tối thiểu thì tùy từng ngân hàng quy định. Vai trò thẻ thanh toán quốc tế Thứ nhất, đối với ngân hàng thương mại và các tổ chức cung ứng dịch vụ thẻ 11 thanh toán quốc tế: Tăng thu dịch vụ: Đối với một ngân hàng hiện đại, thu dịch vụ chiếm tỉ trọng cao, và trong đó thu dịch vụ từ thẻ thanh toán quốc tế cũng đóng vai trò không nhỏ. Thông qua cung cấp thẻ thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể thu được các khoản phí như: phí phát hành, phí quản lý, phí giao dịch, phí chuyển đổi ngoại tệ, hoa hồng từ các tổ chức phát hành thẻ thanh toán quốc tế mà ngân hàng làm đại lý cung cấp. - Tăng nguồn vốn huy động: Ngân hàng có thể huy động tiền gửi nhàn rỗi của khách hàng thông qua việc gửi tiền vào tài khoản thanh toán để đảm bảo số dư hoạt động, hay số dư vượt trội mà khách hàng chưa sử dụng đến.
- Mở rộng phạm vi hoạt động: Thông qua các máy rút tiền tự động Ngân hàng có thể phục vụ khách hàng 24/24. Với việc mở rộng liên kết trong cung cấp các dịch vụ thanh toán giữa các ngân hàng, ngân hàng với các tổ chức cung cấp dịch vụ, tổ chức khác tạo nên một hệ thống thanh toán rộng lớn phủ rộng trên toàn quốc và toàn thế giới, đa dạng trong nhiều lĩnh vực và hoàn chỉnh trong việc đáp ứng ngày càng tốt và đầy đủ hơn nhu cầu của khách hàng. Thứ hai, đối với khách hàng Đối với khách hàng, dịch vụ thẻ thanh toán quốc tế không chỉ đáp ứng được các nhu cầu về thanh khoản, mà thông qua một sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại khách hàng được hưởng những lợi ích tối đa mà các phương thức thanh toán truyền thống không thể có: - An toàn: Với thẻ thanh toán quốc tế khi thanh toán, chủ thẻ không phải mang tiền theo mình, mặt khác thẻ thanh toán quốc tế chứa đựng trong nó những thanh tựu khoa học kỹ thuật hiện đại. Đối với từng loại thẻ thanh toán quốc tế, bên cạnh các thông tin được mã hóa, chủ thẻ còn được cung cấp mã CVV bảo mật và thanh chữ ký để có thể sử dụng thẻ trong quá trình thanh toán được an toàn hơn.
Chính vì vậy, việc sử dụng thẻ thanh toán quốc tế để thanh toán đã hạn chế tối đa rủi ro, mất mát cho khách hàng. - Tiện dụng: Với cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại của các ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán, các ngân hàng đã tăng cường các mối liên kết với nhau và liên 12 kết với các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ khác. Chính vì vậy khách hàng có thể sử dụng thẻ thanh toán quốc tế để thực hiện thanh toán trong nước cũng như ở nước ngoài tại rất nhiều cửa hàng, sân bay, siêu thị.rút tiền tại các máy rút tiền tự động ATM hoạt động liên tục trong ngày mà không cần phải trực tiếp đến ngân hàng, không phải mất thời gian, thủ tục chuẩn bị tiền mặt phục vụ cho việc thanh toán trong nước hay nước ngoài. - Quản lý tài chính hiệu quả: Với thẻ thanh toán quốc tế, khách hàng có thể quản lý được toàn bộ việc chi tiêu của mình thông qua hệ thống tin nhắn, qua sao kê tài khoản mà khách hàng có thể nhận được bất cứ lúc nào tại các ngân hàng hay các máy rút tiền tự động.
Một mặt lượng tiền nhàn rỗi được sinh lời thông qua việc ngân hàng thanh toán lãi có số dư trên tài khoản, mặt khác có thể đáp ứng thiếu hụt thanh toán thông qua việc mở rộng khả năng chi tiêu thông qua hạn mực tín dụng hay thấu chi. Bên cạnh đó, với thẻ thanh toán quốc tế, việc thanh toán còn trở nên hiệu quả hơn khi thực hiện ở bất cứ loại tiền nào, ở bất cứ quốc gia nào mà ít gặp các trở ngại về quản lý ngoại hối hay chuyển đổi tiền tệ Thứ ba, đối với nền kinh tế.