CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ FINTECH 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ FINTECH 1. Khái niệm Trong giai đoạn gần, làn sóng bùng nổ cách mạng công nghiệp đã diễn ra rất mạnh mẽ, ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt của đời sống- kinh tế -xã hội. Đặc biệt, sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 đã gây ra một loạt biến động lớn trên thế giới, tác động trực tiếp tới mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tài chính ngân hàng, đòi hỏi lĩnh vực này phải có sự chuyển mình một cách toàn diện.
Cùng với đó là xu hướng chuyển đổi số diễn ra vô cũng mạnh mẽ, không chỉ ở các quốc gia phát triển mà còn hiện hữu ở các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam, đã góp phần tạo ra động lực thúc đẩy các công ty công nghệ tài chính (Fintech) phát triển. Vậy Fintech là gì? Trước hết Fintech là một từ tiếng Anh, được đưa vào từ điển Oxford với nghĩa là “các chương trình máy tính và công nghệ, được sử dụng để hỗ trợ các dịch vụ tài chính -ngân hàng”. Thực chất đây là một từ ghép, có thể hiểu đơn giản là công nghệ tài chính, được ghép bởi từ “Techlonogy”- công nghệ và “Financial”- tài chính. Cụm từ này được đề cập lần đầu bởi Abraham Bettingger (1972)- một chuyên gia tài chính nổi tiếng người Mỹ.
Theo đó, ông đã đưa ra quan điểm rằng Fintech chính là sự kết hợp giữa công nghệ khoa học máy tính hiện đại với các nghiệp vụ chuyên môn tài chính ngân hàng. Hay nói cách khác, Fintech là ngành kinh doanh dựa trên việc sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông để cung cấp các dịch vụ tài chính. Trong cuốn sách “The future of Fintech” (2017), Bernardo Nicoletti đã nêu lên khái niệm Fintech là các sáng kiến, với một mô hình kinh doanh sáng tạo và đột phá, tạo đòn bẩy cho CNTT-TT trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. Hiểu đơn giản hơn, Fintech là một ngành được tạo thành từ các tổ chức sử dụng công nghệ tài chính mới để hỗ trợ hoặc kích hoạt các dịch vụ tài chính.
Ủy ban Ổn định Tài chính (FSB) định nghĩa Fintech là “đổi mới tài chính hỗ trợ công nghệ có thể tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình hoặc sản phẩm mới có tác động quan trọng liên quan đến thị trường và tổ chức tài chính cũng 6 như việc cung cấp các dịch vụ tài chính”. Định nghĩa này cũng đã được Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) thông qua, một phần vì “Định nghĩa rộng này được BCBS coi là hữu ích dựa trên tính lưu động của sự phát triển Fintech hiện nay”. Theo ban chỉ đạo Fintech của NHNN (2017), Fintech được định nghĩa là áp dụng các công nghệ mới, sáng tạo và hiện đại vào lĩnh vực tài chính, bao gồm cả ngân hàng, dịch vụ thanh toán, các quỹ đầu tư, hưu trí, bảo hiểm,.nhằm mục đích mang lại các giải pháp tài chính tối ưu hơn so với các dịch vụ truyền thống. Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về Fintech.
Tuy nhiên tựu chung lại thì tất cả các quan điểm trên đều đưa ra nhận định rằng Fintech là sự kết hợp giữa CNTT và các dịch vụ tài chính nhằm đạt mục tiêu là phát triển dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ hiện đại một các tối ưu nhất. Chủ thể tham gia Khác với thị trường tài chính truyền thống, chỉ bao gồm 3 chủ thể tác động qua lại với nhau là cơ quan quản lý, các định chế tài chính và khách hàng, các chủ thể tham gia thị trường Fintech có thêm sự góp mặt của các công ty Fintech và các nhà phát triển công nghệ ( In Lee và Yong Jae In - 2016). Hai tác giả này đã đề cập đến 5 chủ thể tham gia Fintech trong nghiên cứu “Fintech:Ecosystem and Business Models” (2016), bao gồm các công ty Fintech, khách hàng, định chế tài chính, các cơ quan quản lý và các nhà phát triển công nghệ. Các chủ thể tham gia thị trường Fintech Cơ quan quản lý Khách Định chế hàng tài chính Các nhà Các công phát triển ty Fintech công nghệ Nguồn: In Lee và Yong Jae In - 2016 Cơ quan quản lý : Ban hành các quy định pháp lý, chính sách cụ thể để hướng dẫn các công ty Fintech tuân thủ theo, tạo điều kiện tốt nhất cho các công ty Fintech phát triển, tiếp cận được nhiều đối tượng khách hàng hơn.
Các định chế tài chính (các ngân hàng TMCP, công ty Chứng khoán, quỹ bảo hiểm,.) Ban đầu các đối tượng này lo sợ Fintech sẽ trở thành đối thủ canh tranh đe dọa trực tiếp đến lợi ích của mình, tuy nhiên sau đó họ đã tìm ra các phương án hợp tác mạnh mẽ với công ty Fintech để tối ưu khả năng đáp ứng nhu cầu của ngày càng thay đổi của khách hàng do sự phát triển của công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động, phát triển thị trường và giữ chân khách hàng. Các công ty Fintech Là những công ty hoạt động độc lập về dịch vụ công nghệ áp dụng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, thường được chia làm 2 xu hướng chính: các công ty trực 8 tiếp phục vụ người tiêu dùng, thực hiện các dịch vụ tài chính như cho vay, tài trợ vốn, quản lý tài chính ,.hoặc các công ty thuộc mảng back office, chủ yếu hỗ trợ công nghệ cho các định chế tài chính. Các nhà phát triển công nghệ Cung cấp nền tảng công nghệ kĩ thuật nhằm hỗ trợ các công ty Fintech dễ dàng tiếp cận các ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến như bigdata, điện toán đám mây, tiền ảo,.để cải tiến dịch vụ một cách tối ưu nhất. Các nhà khai thác mạng di động cũng đang cung cấp cơ sở hạ tầng chi phí thấp cho sự phát triển dịch vụ của các công ty Fintech, chẳng hạn như thanh toán di động và ngân hàng di động.
Đổi lại, ngành công nghiệp Fintech đang tạo doanh thu cho các nhà phát triển công nghệ này Khách hàng: Là đối tượng trực tiếp sử dụng các dịch vụ tài chính. Vì vậy, mọi sản phẩm dịch vụ đều phải xuất phát từ nhu cầu và mong muốn của họ, đồng thời chính họ là người sẽ quyết định đến sự tồn tại của sản phẩm thông qua mức độ chấp nhận sản phẩm dịch vụ đó. Các lĩnh vực của Fintech. Hiện nay, các công ty Fintech trên toàn cầu đã và đang cung cấp rất nhiều dịch vụ ở đa dạng các ngành nghề khác nhau.
Trong đó phải kể đến lĩnh vực tài chính ngân hàng, các giải pháp thanh toán,bù trừ và quyết toán; tài chính cho cá nhân- doanh nghiệp; tiền số,. Nhìn chung, Fintech áp dụng trong 3 nhóm chính sau : tài trợ - vận hành và quản trị rủi ro- thanh toán, tương ứng với đó là rất nhiều sản phẩm nổi bật như ví điện tử, công nghệ chuỗi blockchain, thương mại trực tuyến B2C, bảo hiểm, tài chính thay thế. Các lĩnh vực của Fintech STT Lĩnh vực Sản phẩm chính - Phân tích và quản lý số liệu 1 Công nghệ ngân hàng - Quản lý quan hệ khách hàng - Bảo mật trong lĩnh vực ngân hàng - Bảo hiểm sức khỏe/ô tô/tài sản thay thế Các dịch vụ thay thế dịch vụ lõi - Ngân hàng số - Chuyển tiền ngang hàng - Các giải pháp liên quan đến thanh toán 2 Thanh toán, bù trừ và quyết toán - Thương mại trực tuyến - Thiết bị chấp nhận thẻ/ví di động - Cho vay hàng ngang giữa các DN 3 Tài chính doanh nghiệp - Cấp HMTD cho DN - Gọi vốn (crowfunding) - Xếp hạng tín dụng - Dịch vụ tư vấn tài chính tự động 4 Tài chính cá nhân - Cho vay tiêu dùng hàng ngang - Cho vay trả góp - Quản lý tài chính cá nhân - Ví điện tử - Bitcoin 5 Tiền kỹ thuật số - Công nghệ chuỗi blockchain - Các sàn giao dịch tiền kỹ thuật số Nguồn: Fintech Industry Overview 2016, SparkLabs Global Venture 10 1. CÁC CÔNG NGHỆ ỨNG DỤNG TRONG FINTECH HIỆN NAY.
Trước làn sóng chuyển đổi số đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ trên toàn cầu, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ và xu hướng thị hiếu thay đổi của người dân, Fintech ngày càng trở nên phổ biến và được nhiều đối tượng đón nhận như một giải pháp tài chính công nghệ hiện đại. Nhiều công ty Fintech được thành lập và đã vô cùng thành công, tạo thay đổi lớn cho nền dịch vụ tài chính ngân hàng ví dụ như Ant Financial/ Alipay, Paytm, Credit Karma, Visa, Paypal, Stripe,.Chính vì thế, nó đã trở thành mối lo ngại lớn cho các ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải có sự thay đổi một cách năng động, áp dụng các công nghệ hiện đại vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính của mình để không bị bỏ lại ở phía sau. Để làm được điêù đó, các ngân hàng cần phải hợp tác với các công ty Fintech bên ngoài, hoặc tự đầu tư vào phát triển công nghệ. Theo xu hướng hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng đồng thời cả hai hướng trên để phát triển Fintech.
Điện toán đám mây Điện toán đám mây là việc sử dụng mạng trực tuyến “đám mây” của bộ xử lý lưu trữ để tăng quy mô và tính linh hoạt của năng lực máy tính. Các giải pháp về điện toán đám mây giúp các ngân hàng dễ dàng tiếp cận hạ tầng công nghệ thông tin, giúp dễ dàng khai thác và tiếp cận dữ liệu mà ngân hàng đã phải mất hàng thập kỷ để xây dựng. Từ đó giúp các ngân hàng cắt giảm chi phí, gỡ bỏ rào cản tham gia vào các dịch vụ tài chính do việc quản lý dữ liệu lớn và ứng dụng phân tích phức tạp được đơn giản hóa, cho phép tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính và gia tăng quy mô tương ứng khi doanh nghiệp tăng trưởng. Các ngân hàng truyền thống sử dụng điện toán đám mây để phát triển các giải pháp mới mà không phải đầu tư trang thiết bị, triển khai, nâng cấp, bảo trì, từ đó cắt giảm chi phí.
Robot và trí tuệ nhân tạo Trí tuệ nhân tạo (AI) được định nghĩa là hệ thống CNTT thực hiện các chức năng đòi hỏi ở khả năng của con người. AI có thể đặt câu hỏi, khám phá và kiểm tra các giả thuyết và tự động đưa ra quyết định dựa trên hoạt động phân tích nâng cao các bộ tệp dữ liệu mở rộng. Trên thực tế, việc ứng dụng các robot và trí tuệ nhân tạo vào dịch vụ ngân hàng đã được tiến hành từ lâu với sự ra đời của các ATM, các robot đời đầu trong kinh doanh ngân hàng.