Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Giới thiệu về ngân hàng TMCP Sài Gòn và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Chương 3: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Chương 5: Giải pháp hoàn thiện QTRRTD tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn 6 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 2. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) được thành lập vào ngày 26/12/2011 dựa trên cơ sở hợp nhất của 03 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank). Ngân hàng TMCP Sài Gòn – SCB đã phát triển, thay đổi không ngừng sau khi hợp nhất. Với tổng tài sản 498.500 tỷ đồng, vốn điều lệ hơn 15.231 tỷ đồng tính đến 30/11/2018 SCB hiện đứng trong Top 5 ngân hàng TMCP có quy mô lớn nhất Việt Nam.
Mạng lưới hoạt động gồm 239 điểm giao dịch của SCB trải dài khắp 28 tỉnh/thành khắp đất nước với đội ngũ nhân viên hơn 6. Các hoạt động chính tại ngân hàng: Huy động vốn Nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ của các doanh nghiệp, tổ chức và người dân. Các chương trình nhận tiền gửi tiết kiệm sáng tạo, hấp dẫn mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng: Tiền gửi vốn chuyên dùng, Tiết kiệm dự thưởng, Tiết kiệm Phúc an khang, Tiết kiệm tích luỹ, Tiền gửi online, Tiền gửi đầu tư. Phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn, trái phiếu.
Hoạt động đầu tư, cho vay Cho vay khách hàng cá nhân: Cho vay tiêu dùng, mua xe ô tô, mua nhà đất, cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay thấu chi, tín chấp, dịch vụ bảo lãnh, chứng minh năng lực tài chính. Cho vay khách hàng doanh nghiệp có: Bảo lãnh dự thầu; thực hiện hợp đồng; thanh toán. 7 Bao thanh toán. Phát hành cam kết tài trợ tín dụng.
Cho vay ngắn hạn bằng VNĐ và ngoại tệ. Cho vay trung, dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ. Tài trợ thương mại; chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất. Hoạt động tài trợ thương mại và thanh toán Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; Nhờ thu xuất, nhập khẩu (Collection); Nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P) và nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A).
Chuyển tiền nhanh Western Union Thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc. Chi trả lương cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua ATM Chi trả Kiều hối… Ngân quỹ Dịch vụ ngân quỹ Giao dịch vàng, ngoại tệ. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn trong 4 năm 2015 – 2018 a. Hoạt động huy động vốn Có thể thấy được cơ cấu của hai loại nguồn vốn huy động và tốc độ tăng trưởng của tiền gửi qua 4 năm 2015, 2016, 2017 và 2018 thông qua bảng số liệu sau: Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại SCB giai đoạn 2015 - 2018 Đơn vị: Tỷ đồng TIỀN GỬI KHÔNG TIỀN GỬI CÓ CHỈ TIÊU TỔNG KỲ HẠN KỲ HẠN Số tiền 4.914 Năm 2018 % 4,24 95,76 100 Chênh lệch Số tiền (+/-) 1.511 (2018/2017) % 1,03 1,12 1,11 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2015, 2016, 2017 và 2018) Năm 2015, tổng nguồn vốn huy động là 256.
Sang đến năm 2016 tổng vốn huy động được là 295.152 tỷ đồng, tăng 39.932 tỷ đồng so với năm 2015 tương ứng với mức tăng trưởng là 1,15%. Đến năm 2017, tổng nguồn vốn huy động là 346.403 tỷ đồng, tăng 51.251 tỷ đồng so với năm 2016 tương ứng với mức tăng trưởng vượt trội là 1,17%. Năm 2018, tổng nguồn vốn huy động là 384.914 tỷ đồng, tăng 38.511 tỷ đồng so với năm 2017 tương ứng với mức tăng trưởng là 1,11%. Trong đó: Tiền gửi không kỳ hạn: tăng qua các năm từ 4.566 tỷ đồng năm 2015 tăng lên 6.513 tỷ đồng vào năm 2016, tăng thêm 1.947 tỷ đồng tương ứng với tốc độ tăng là 1,42% so với năm 2015.
Đến năm 2017 lượng tiền huy động đạt 15.807 tỷ đồng, tăng 9.294 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng là 2,42% so với năm 2016. Năm 2018, tiền gửi không kỳ hạn huy động được là 16.347 tỷ đồng, tăng 540 tỷ đồng so với năm 2017 tương ứng với mức tăng trưởng là 1,03%. 9 Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi luôn tăng trưởng mạnh qua các năm. Đặc biệt trong cơ cấu nguồn vốn của SCB thì tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm trên 90% tổng nguồn vốn huy động, cụ thể: Năm 2015, huy động với số tiền là 250.455 tỷ đồng đạt 97,67% so với tổng nguồn vốn huy động khách hàng.
Năm 2016 số tiền là 288.440 tỷ đồng chiếm 97,72 %, đến năm 2017 thì số tiền là 327.654 tỷ đồng chiếm tỷ lệ là 94,58%. Tương tự, năm 2018 tiền gửi có kỳ hạn là 367.938 tỷ đồng chiếm tỷ lệ là 95,76%. Tình hình huy động vốn qua 4 năm 2015-2018 của SCB đã có sự tăng trưởng đáng kể. Điều này thể hiện rằng SCB đã phát huy được chức năng của mình tại địa bàn trong việc huy động tiền nhàn rỗi của người dân phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Có được sự tăng trưởng như vậy là do SCB đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là huy động vốn, xem nguồn vốn là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh, từ đó trong công tác chỉ đạo điều hành đã có những quyết sách linh hoạt và hiệu quả nhằm gia tăng nguồn vốn. Nhất là nguồn vốn có tính ổn định từ dân cư, tạo sự chủ động trong việc cân đối nguồn vốn để mở rộng đầu tư tín dụng cho các dự án phát triển kinh tế trên địa bàn. SCB đã thực hiện nghiên cứu phát triển sản phẩm huy động, triển khai tốt các chương trình huy động tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, các chương trình dự thưởng.Điều chỉnh lãi suất huy động trên cơ sở tuân thủ chỉ đạo của NHNN và phù hợp với điều kiện cạnh tranh giữa các ngân hàng. Kết quả hoạt động kinh doanh Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh SCB từ năm 2015 – 2018 Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 1.
Tổng Thu nhập 5. Tổng Chi phí 2. Lợi nhuận trước thuế 110,806 135,977 163,992 228,798 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2015, 2016, 2017 và 2018) Qua bảng số liệu trên ta thấy: Năm 2016 thu nhập và chi phí đều giảm hơn nhiều so với năm 2015, cụ thể thu nhập giảm từ 5.008,331 tỷ đồng xuống còn 4.040,806 tỷ đồng, còn chi phí cũng giảm từ 2.618,541 tỷ đồng xuống còn 2. NH vẫn đạt được sự tăng trưởng tính theo lợi nhuận trước thuế.
Nguyên nhân thu nhập và chi phí trong năm này giảm nhiều như vậy là do năm 2016 hệ thống Ngân hàng chịu ảnh hưởng chung của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thắt chặt. NHNN quy định mức lãi suất trần huy động tiền gửi 14% cho tất cả các Ngân hàng nên các hoạt động của ngân hàng gặp nhiều cạnh tranh giữa các NH trên cùng địa bàn trong huy động vốn, chi phí huy động đầu vào cao nên phải tăng lãi vay lên khoảng 19-20%/năm để đảm bảo lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh, lạm phát năm 2016 là 18,58%; việc này khiến cho thu nhập và hoạt động kinh doanh của ngân hàng giảm. Năm 2017, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đã tăng so với năm 2016. Thu nhập tăng từ 4.040,806 tỷ đồng lên 4.497,058 tỷ đồng; cùng theo đó, chi phí cũng tăng từ 2.440,004 tỷ đồng năm 2016 lên 3.
Năm 2018, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đã tăng so với năm 2017. Thu nhập tăng lên 6.531,631 tỷ đồng; cùng theo đó, chi phí cũng tăng lên 4.000 Tổng thu nhập Tổng chi phí 3.000 Lợi nhuận trước thuế 2.1: Lợi nhuận SCB giai đoạn 2015 - 2018 Đơn vị: Tỷ đồng (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2015, 2016, 2017 và 2018) Có được kết quả kinh doanh nổi bật trong năm 2018, SCB đã nắm bắt và đi trước trong kiến trúc hệ thống, với việc triển khai gần 300 sáng kiến, tối ưu hóa, cải tiến hệ thống, quy trình có mức độ ảnh hưởng sâu rộng và thực hiện 8 dự án trọng điểm toàn hàng trong năm 2018. Đồng thời, SCB đang quyết liệt triển khai chiến lược ngân hàng số, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Hoạt động cho vay Tình hình cho vay của NH được thể hiện như bảng 2.3 dưới đây: Bảng 2.3: Tình hình cho vay tại SCB từ năm 2015 – 2018 Đơn vị: Tỷ đồng CHỈ TIÊU 1.
Tỉ lệ nợ xấu (%) Năm 2015 Số tiền 170.820 0,60 So sánh Số tiền (+/-) 51.392 130 -0,03 (2018/2017) % 1,13 1,08 (Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2015, 2016, 2017 và 2018) Tổng dư nợ: Trong những năm qua SCB đã có sự đầu tư chú trọng đến việc mở rộng hoạt động cho vay đến mọi đối tượng khách hàng. Tích cực tìm kiếm các dự án đầu tư đang cần vốn, cùng với việc đa dạng hóa các loại hình cho vay và dịch vụ kết hợp với sự nỗ lực của các CBTD để phấn đấu mục tiêu mà ngân hàng đã đề ra nên dư nợ qua các năm đều tăng. Năm 2015, tổng dư nợ đạt 170.183 tỷ đồng tăng thêm 51.722 tỷ đồng với tốc độ tăng 1,30% so với năm 2015, đến năm 2017 là 266.500 tỷ đồng tăng thêm 44.317 tỷ đồng với tốc độ tăng 1,20 % so với năm 2016. Năm 2018, tổng dư nợ đạt 301.
Dư nợ tăng cho thấy ưu điểm trong việc mở rộng tín dụng, tạo được sự tín nhiệm và tin tưởng cho khách hàng. Nợ xấu: Nợ xấu 3 năm 2016-2018 đều tăng so với năm 2015, năm 2016 là 1.501 tỷ đồng, năm 2017 là 1.690 tỷ đồng sang năm 2018 là 1. Năm 2018, nợ xấu tăng so với năm 2017 là 130 tỷ đồng tương ứng tốc độ tăng là 1,08%. Mặc dù năm 2015 và 2016, tình hình kinh tế tốt dần lên sau khi gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng chính sách tiền tệ toàn cầu, làm tỷ giá và cung cầu ngoại tệ biến động thường xuyên.