CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TRA THUẾ TẠI CƠ QUAN THUẾ 1. Những vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế 1. Khái niệm kiểm tra thuế Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung và việc đảm bảo tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. Kiểm tra thuế được hiểu là hoạt động do cơ quan Thuế tiến hành nhằm xác định tình hình tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.
“Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan Thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra” (Phan Ngọc Chính và các cộng sự. Qua quan niệm nêu trên có thể hiểu: Kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế, thông qua các phương pháp phân tích, đánh giá tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, hoạt động kiểm tra giúp phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Từ đó, công tác quản lý thuế được hoàn thiện, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. - Về mục đích: Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 (được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 21/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13) tại Điều 77 quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; Điều 78 quy định Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế: “Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.
Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế trong trường hợp người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu theo thông báo của cơ quan thuế; không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không chứng 8 minh được số thuế đã khai là đúng; hoặc cơ quan thuế không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp…….Kiểm tra đối với trường hợp qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế xác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật” (Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11). Kiểm tra thuế là nội dung quan trọng của quản lý thuế. Mục đích phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế, chống thất thu thuế; nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế, từ đó góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân có ý thức trong việc chấp hành pháp luật thuế và hoàn thành tốt nghĩa vụ của người nộp thuế, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội. - Về chủ thể: Chủ thể kiểm tra thuế là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, là cơ quan Thuế các cấp.
- Về đối tượng: Đối tượng kiểm tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước. - Về nội dung: Kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế. - Về phương pháp: Thường sử dụng các phương pháp phân tích để phát hiện và nhận dạng rủi ro từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp, phân tích theo chiều ngang, phân tích theo chiều dọc, phân tích tỷ suất, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích đồ thị (đồ thị hình sin, đồ thị hình khối, đồ thị hình tròn). Từ đó phân tích và nhận dạng rủi ro, xếp hạng mức độ rủi ro của người nộp thuế để lựa chọn trường hợp người nộp thuế cần phải kiểm tra tại trụ sở NNT, lập kế hoạch kiểm tra xong tiến hành kiểm tra làm rõ đúng, sai, không bỏ sót, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm.
Ngoài ra, hoạt động kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế. Do vậy công tác kiểm tra thuế là hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế nhất là trong nền kinh tế thị trường thời kỳ hội nhập. Đặc điểm của kiểm tra thuế Thứ nhất, đối tượng và nội dung kiểm tra thuế rất rộng về đối tượng, phạm vi và lĩnh vực đa ngành nghề. Hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở 9 tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội và được thực hiện một cách thường xuyên liên tục.
Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác khó khăn, phức tạp, nhạy cảm vì đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế. Chính vì thế để bảo vệ lợi ích vật chất của mình, che giấu các hành vi trốn thuế ở mức độ tinh vi, người nộp thuế thường tìm mọi hình thức cản trở, kể cả mua chuộc, cám dỗ, cạm bẫy, dùng mọi thủ đoạn để đối đầu tạo sức ép, áp lực gây khó khăn cho công tác kiểm tra của cơ quan Thuế. Thứ ba, công tác kiểm tra thuế trong cơ chế thị trường đòi hỏi cao về năng lực trình độ chuyên sâu, chuyên nghiệp của công chức thuế làm công tác kiểm tra, kỹ năng kiểm tra phân tích nguyên nhân và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, văn hoá ứng xử của công chức thuế làm công tác kiểm tra. Người công chức thuế ngoài việc phải nắm chắc, hiểu sâu các luật thuế, cập nhật thường xuyên các văn bản hướng dẫn có điều chỉnh bổ sung trong quá trình thực hiện, còn phải am hiểu chế độ kế toán để đọc và phân tích báo cáo tài chính, các chuẩn mực kế toán, pháp luật thuế, kỹ năng tin học, kỹ năng đánh giá rủi ro và phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra và các mối liên hệ liên quan ràng buộc đến các hoạt động kinh tế phát sinh.
Đối với ngành Thuế, Công nghệ thông tin (CNTT) luôn là công cụ hỗ trợ đắc lực không thể thiếu để Ngành thuế thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Cùng với công cuộc cải cách và hiện đại hóa ngành thuế, mục tiêu ứng dụng CNTT giai đoạn 2016-2020 hướng tới ngành Thuế hiện đại, hiệu lực, hiệu quả thì công chức thuế còn phải đảm bảo có nguồn nhân lực về CNTT chuyên sâu, chuyên nghiệp…phù hợp với mục tiêu ứng dụng CNTT trong quản lý thuế thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Thứ tư, hoạt động kiểm tra được thực hiện theo một quy trình cụ thể, Quy trình hóa hoạt động kiểm tra thuế được hiểu là việc xây dựng và chuẩn hóa trình tự thực hiện các bước công việc trong hoạt động kiểm tra thuế và trách nhiệm thực hiện các bước công việc đó của từng bộ phận, từng công chức tham gia quy trình. Quy trình hóa hoạt động kiểm tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của cơ quan Thuế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, đáp 10 ứng những yêu cầu trong điều kiện thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp nói riêng và thực hiện đổi mới quản lý thuế nói chung.
Mục tiêu của kiểm tra thuế Mục tiêu của kiểm tra thuế là nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế đảm bảo công bằng xã hội và hiệu lực quản lý thuế. Hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp người nộp thuế và cơ quan Thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành thuế. Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của người nộp thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra thuế, cơ quan Thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế.
Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ người nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị mình khi thực hiện luật quản lý thuế. Nguyên tắc kiểm tra thuế Nguyên tắc kiểm tra là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành động mà các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức, công chức, kiểm tra viên phải tuân theo trong quá trình hoạt động kiểm tra. Các nguyên tắc hoạt động kiểm tra chỉ đạo và chi phối mối quan hệ trong kiểm tra nhằm đảm bảo cho hoạt động kiểm tra đạt được mục đích đề ra. Mục tiêu của kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước.
Để đạt được mục tiêu đã đề ra thì hoạt động kiểm tra thuế cần tuân thủ những nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan quản lý thuế, công chức, công chức làm công tác kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định. 11 Đây là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra thuế. Thứ hai, nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan.
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi hoạt động kiểm tra thuế phải tuân thủ các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế phát sinh của nghiệp vụ kinh tế, không được sai lệch, bóp méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế phát sinh. Nguyên tắc chính xác đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải nhận thức đúng đắn vấn đề, nội dung kiểm tra; xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận, giúp cho việc xử lý sai phạm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan yêu cầu chủ thể kiểm tra thuế phải phản ánh đúng sự vật, hiện tượng vốn có, tôn trọng sự thật. Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra thuế.