phần mở đầu và kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 mục nhƣ sau: Chƣơng : Lý luận chung về hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại STB – CN Gò Vấp giai đoạn 2019-2021. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại STB – CN Gò Vấp giai đoạn từ nay đến năm 2033 1 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM 1.
Tổng quan về tín dụng NHTM 1. Khái niệm tín dụng Các quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, ngay cả những quan hệ tín dụng thô sơ nhất cũng ra đời ngay sau khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã. Khi sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất xảy ra thì đồng thời có sự trao đổi hàng hoá. Thời kỳ này, tín dụng đƣợc thực hiện dƣới hình thức cho vay tiền mặt - hàng hoá.
Trong nền kinh tế hàng hoá, ở bất kỳ thời điểm nào cũng có ngƣời tạm thời thừa vốn, tạm thời nhàn rỗi cần cho vay, ngƣời thiếu vốn tạm thời cần vốn nhận một khoản vay. Hiện tƣợng này làm phát sinh một quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn đƣợc chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu hụt với điều kiện có hoàn trả và có thêm phần thặng dƣ, gọi là tiền lãi (đối với vốn tạm thời nhàn rỗi) và giá vốn (đối với đối tƣợng thiếu vốn tạm thời sử dụng vốn nhàn rỗi của đối tƣợng có vốn tạm thời nhàn rỗi). Đây là một quan hệ tín dụng. Nhƣ vậy, tín dụng là quan hệ vay mƣợn giữa các chủ thể theo nguyên tắc trả lãi để thoả mãn nhu cầu của hai bên, là quan hệ bình đẳng cùng có lợi, mang tính thỏa thuận.
Nghiên cứu về bản chất tín dụng Mark (2003) cho r ng, tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng giá tr (dƣới hình thức tiền hoặc hiện vật) trong một thời gian nhất đ nh từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng và đƣợc hoàn trả khi đáo hạn với số tiền lớn hơn giá tr ban đầu. Phần vƣợt quá này đƣợc gọi là lãi suất tín dụng. Khác với các quan hệ kinh tế khác, chuyển nhƣợng trong quan hệ tín dụng chỉ là chuyển giao quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất đ nh mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay. 2 Về bản chất, tín dụng là biểu hiện của các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nh m thoả mãn nhu cầu vốn tạm thời cho tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc có hoàn trả (TS.
Nguyễn Quang Hiền, 20 8). Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá. Tín dụng ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Khi quá trình sản xuất và lƣu thông ngày càng phát triển thì yêu cầu về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng lớn, đa dạng và phức tạp.
Vì vậy, tín dụng NH ra đời, phát triển và ngày càng trở thành nguồn tín dụng chủ yếu của nền kinh tế. Tín dụng NH là quan hệ vay mƣợn giữa NH với mọi cá nhân, tổ chức, DN khác trong xã hội. Đó không phải là quan hệ luân chuyển vốn trực tiếp từ nơi thừa tạm thời sang nơi thiếu hụt tạm thời mà là quan hệ luân chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian là NH. Tín dụng NH còn có bản chất chung của quan hệ tín dụng là quan hệ cho vay hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất đ nh, là quan hệ chuyển giao tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ giữa hai bên bình đẳng và cùng có lợi (Macleod, 866).
Khái niệm tín dụng NHTM Tín dụng NH là quan hệ tín dụng giữa NH – tổ chức chuyên kinh doanh l nh vực tiền tệ – với tổ chức, cá nhân hoặc xã hội, trong đó NH vừa là bên vay, vừa là bên cho vay. Bản chất của tín dụng NH là sự vận động của vốn tiền tệ qua NH. Các NH với các nghiệp vụ và hình thức huy động vốn khác nhau huy động lƣợng tiền nhàn rỗi trong lƣu thông, tạo thành nguồn vốn lớn. Đồng thời, NH sử dụng nguồn vốn này để cho vay.
Vì vậy, NHTM còn đƣợc gọi là trung gian tài chính – tiền tệ trong các nền kinh tế, là cầu nối giữa những ngƣời có vốn và những ngƣời cần vốn (Burghof, 2000; Diamond & Rajan, 2006; Gorton & He, 2008; Werner, 2016). Nói đến tín dụng NH là nói đến cả “vay” và “cho vay”. Tuy nhiên, trên thực tế, do tính chất phức tạp của hoạt động NH, hoạt động nhận tiền gửi và hoạt động 3 cho vay đƣợc tách biệt. Nhận tiền gửi là một hoạt động "huy động vốn".
Ngƣợc lại, cho vay là hoạt động “sử dụng vốn”. Khoản 4 Điều 4 Luật các TCTD 20 0 quy đ nh “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng vốn tự có hoặc vốn huy động để cấp tín dụng” và “Cấp tín dụng là việc TCTD thỏa thuận với KH để họ sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả b ng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác. Trong phạm vi của luận văn, tín dụng chủ yếu đƣợc xem x t ở khía cạnh NHTM cấp tín dụng cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội dƣới hình thức cho vay. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng ch u sự chi phối và ràng buộc chặt chẽ của hoạt động huy động vốn.
Do đó, hoạt động huy động vốn cũng sẽ đƣợc phân tích và đánh giá ở những khía cạnh phù hợp. Vai trò của tín dụng NHTM Tín dụng là công cụ thúc đẩ quá trình tái sản xuất mở rộng Theo Kněz và nnk. ( 982), Ras và nnk. (20 8), vai trò quan trọng của tín dụng là cung cấp vốn có hiệu quả, k p thời để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng thời góp phần đầu tƣ phát triển kinh tế.
Trên thực tế, quá trình SXKD của các DN luôn có sự chênh lệch về thời gian cũng nhƣ khối lƣợng giữa lƣợng tiền cần thiết để dự trữ vật tƣ, hàng hóa cho quá trình SXKD tiếp theo với lƣợng tiền thu đƣợc từ việc tiêu thụ hàng hoá của chu kỳ SXKD trƣớc đó. Điều này dẫn đến dòng tiền của DN khi thừa, khi thiếu. Ngay cả việc thu chi ngân sách Nhà nƣớc cũng thƣờng xuyên có sự chênh lệch giữa thời điểm thu và chi. Vì vậy, khi nguồn vốn của DN tạm thời dƣ thừa cùng với các nguồn tiết kiệm nhàn rỗi trong dân cƣ, ngân sách Nhà nƣớc thặng dƣ,.
đã đƣợc các NHTM tận dụng huy động và sử dụng vốn huy động đó để đầu tƣ cho các DN khác còn thiếu vốn, cá nhân có nhu cầu tiêu dùng tạm thời vƣợt quá thu nhập của họ và cho nhu cầu chi tiêu của ngân sách Nhà nƣớc khi chƣa có nguồn thu ngân sách k p thời. Nhƣ vậy, tín dụng NH đã góp phần điều hoà vốn một cách có hiệu quả trong toàn bộ nền kinh tế. 4 Tín dụng góp phần thúc đẩ quá trình tích tụ và tập trung vốn, mở rộng đầu tƣ inh doanh Nghiên cứu về vai trò của tín dụng của Ngô Gia Lƣu ( 998) cho r ng, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn. Các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ nhiều đối tƣợng khác nhau với quy mô đa dạng sẽ đƣợc NHTM tập trung thông qua huy động và trở thành nguồn vốn lớn.
Thông qua việc các NHTM tập trung vốn và ƣu tiên cho vay một lƣợng vốn rất lớn đối với các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và nâng cao giá tr sản phẩm, tăng GDP, sản xuất những hàng hóa chiến lƣợc nh m tăng cƣờng hội nhập quốc tế. Tín dụng là công cụ thúc đẩ hạch toán inh doanh, tăng cƣờng quản lý tài chính, tăng tích luỹ cho DN. Các TCTD khi cho vay vốn phải cân nhắc mức độ hiệu quả cho vay, họ chỉ cho vay khi biết r ng có lãi. Mặt khác, khi cho vay, trƣớc hết NH phải thực hiện công tác phân tích tín dụng: phân tích năng lực tài chính,… thông qua báo cáo tài chính.
Điều này buộc các DN phải tăng cƣờng hạch toán kinh tế, quản lý tài chính và tích lũy vốn để có thể hoàn vốn cho NH (Trần Anh Dƣơng, 20 5). Tín dụng NH đóng vai trò trung gian chu ển đổi hạn, rủi ro và đáp ng nhu cầu đa dạng của nền inh t. Tín dụng trực tiếp, x t trên những khía cạnh nhất đ nh, đã đáp ứng đƣợc nhu cầu thừa và thiếu vốn tạm thời của các chủ thể trong nền kinh tế. Tuy nhiên, quan hệ tín dụng trực tiếp vẫn còn nhiều hạn chế về quy mô, thời gian, không gian, sự ăn khớp của các nhu cầu này giữa hai chủ thể cụ thể… Ngoài ra, rủi ro do khó kiểm soát ngƣời đi vay cũng hạn chế cho vay và có thể đẩy lãi suất lên.
Các trung gian tài chính với khả năng chuyên môn hóa các hoạt động của mình có nhiệm vụ thực hiện vai trò cầu nối hiệu quả, không chỉ giải quyết các hạn chế về quy mô, thời gian, không gian,. mà còn quản lý rủi ro thận trọng, giúp ngƣời cho vay chuyển giao rủi ro, có động lực tiết kiệm và tham gia nhiều hơn vào hoạt động đáp ứng vốn, giúp ngƣời đi vay tiếp cận đƣợc các nguồn vốn theo nhu cầu với chi phí hợp lý hơn, 5 khuyến khích đầu tƣ phát triển SXKD (Burghof, 2000; Diamond & Rajan, 2006; Gorton & He, 2008; Werner, 2016). Tín dụng NH là công cụ của Nhà nƣớc để điều ti t hối lƣ ng đầu tƣ gi a các thành phần trong nền inh t Một trong những chức năng quan trọng của NHTM là tạo ra phƣơng tiện thanh toán. Khi một NH cho vay (hoặc tạo ra tín dụng) thì NH tạo ra một phƣơng tiện thanh toán.
Ngƣợc lại, khi các NHTM giảm tín dụng thì lƣợng tiền cung ứng sẽ giảm. Vì vậy, tín dụng NH đƣợc Nhà nƣớc sử dụng nhƣ một công cụ để điều tiết khối lƣợng tiền tệ trong lƣu thông thông qua việc thực hiện các chính sách tiền tệ của NHNN [ ],[ 8].