Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác giám sát từ xa của Ngân hàng trung ƣơng đối với hoạt động của các NHTM Chƣơng 2: Thực trạng công tác giám sát từ xa của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam đối với các NHTM CP có trụ sở chính trên địa bàn TP Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác giám sát từ xa của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam đối với các NHTM CP có trụ sở chính trên địa bàn TP Hà Nội Phần kết luận. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TỪ XA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ NHTW 1.1 Khái niệm NHTW và các loại hình NHTW Căn cứ vào quy định của các quốc gia trên thế giới thì có nhiều khái niệm về NHTW. Tuy nhiên, phần lớn NHTW của các quốc gia đều là tổ chức điều hành và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, chịu trách nhiệm chính trong việc phát hành tiền, quản lý lƣu thông tiền tệ và các chỉ số liên quan đến giá cả, lạm phát của quốc gia đó. Theo từ điển Wikipedia, NHTW là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia, nhóm quốc gia, vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ, là ngƣời cho vay cuối cùng, đảm bảo an toàn, tránh nguy cơ đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng.
Các nƣớc tƣ bản phát triển có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đời nhƣ Pháp, Anh. thì thành lập NHTW bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng phát hành thông qua mua lại cổ phần của các ngân hàng này rồi bổ nhiệm ngƣời điều hành. Một số nƣớc tƣ bản khác thì Nhà nƣớc chỉ nắm cổ phần khống chế hoặc vẫn để thuộc sở hữu tƣ nhân nhƣng Nhà nƣớc bổ nhiệm ngƣời điều hành. Ở Việt Nam, NHTW đƣợc thành lập thuộc sở hữu của nhà nƣớc, gọi là Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, là một định chế công cộng của Nhà nƣớc.
Trong Luật Ngân hàng Nhà nƣớc của Việt Nam có quy định:Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nƣớc) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ƣơng của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ 5 nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nƣớc là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nƣớc, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội. Ngân hàng Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ƣơng về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Các mô hình NHTW: - Mô hình NHTW trực thuộc chính phủ là mô hình trong đó NHTW nằm trong nội các chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của chính phủ về nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ.
Các nƣớc áp dụng mô hình này phần lớn là các nƣớc Đông Á (Hàn quốc, Đài loan, Singapore, Indonesia, Việt Nam .) hoặc các nƣớc thuộc khối xã hội chủ nghĩa trƣớc đây. Theo mô hình này, chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lƣợng tác động hiệu quả của tổng thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ. Mô hình này đƣợc xem là phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ tiền phát triển. Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Sự phụ thuộc vào chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trƣởng kinh tế. Tuy nhiên, sự lớn mạnh nhanh chóng của các nƣớc thuộc nhóm NIEs nhƣ Singapore, Hàn quốc, Đài loan.nơi NHTW là một bộ phận trong guồng máy chính phủ là một bằng chứng có sức thuyết phục về sự phù hợp của mô hình tổ chức này đối với truyền thống văn hoá Á đông. - Mô hình NHTW độc lập với chính phủ là mô hình trong đó NHTW không chịu sự chỉ đạo của chính phủ mà là quốc hội. Quan hệ giữa NHTW và 6 chính phủ là quan hệ hợp tác.
Các NHTW theo mô hình này là Quỹ dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Thụy sĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật bản và gần đây là NHTW châu Âu (ECB). Xu hƣớng tổ chức NHTW theo mô hình này đang càng ngày càng tăng lên ở các nƣớc phát triển. Theo mô hình này, NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hƣởng bởi các áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác. Mặt khác, theo quan điểm dân chủ cổ truyền của châu Âu thì mọi chính sách phải đƣợc phục vụ cho quyền lợi của công chúng và phải đƣợc quyết định bởi quốc hội - cơ quan đại diện cho quyền lực của toàn dân - chứ không phải một nhóm các nhà chính trị - chính phủ.
Chính vì vậy, NHTW do có vai trò hết sức quan trọng tới đời sống kinh tế nên không thể đặt dƣới quyền chính phủ đƣợc mà phải do quốc hội kiểm soát. Điểm bất lợi chủ yếu của mô hình này là khó có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ - do NHTW thực hiện và chính sách tài khoá - do chính phủ chi phối để quản lý vĩ mô một cách hiệu quả. Không có một mô hình nào có thể đƣợc coi là thích hợp cho mọi quốc gia. Việc lựa chọn mối quan hệ thích hợp giữa NHTW và chính phủ phải tuỳ thuộc vào chế độ chính trị, yêu cầu phát triển kinh tế, đặc điểm lịch sử và sự phát triển của hệ thống ngân hàng của từng nƣớc.
Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định nó cũng bị ảnh hƣởng bởi trào lƣu của thế giới. Hoạt động cơ bản của NHTW Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, của các hoạt động thanh toán điện tử, ngân hàng điện tử,… hoạt động cơ bản của NHTW đang có những thay đổi và tạo ra nhiều quan điểm trái chiều về vấn đề này. Cho đến thời điểm hiện nay, hoạt động cơ bản của NHTW bao gồm: 1. Phát hành tiền NHTW đƣợc giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định 7 trong luật hoặc đƣợc chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành.) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lƣu thông tiền tệ của quốc gia.
Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền lƣu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cƣỡng chế lƣu hành, vì vậy mọi ngƣời không có quyền từ chối nó trong thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định số lƣợng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng nhƣ phƣơng thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lƣợng tiền trong lƣu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm 1. Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian NHTW không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian.
Bao gồm: - Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian dƣới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; - Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dƣới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung gian không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trƣớc có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW; - Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian: Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt 8 buộc và dự trữ vƣợt mức tại NHTW nên chúng có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Khi đó, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian. Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng Với tƣ cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thƣờng xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những ngƣời gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng.
Thực hiện các dịch vụ tài chính cho Chính phủ Cho dù NHTW đƣợc xây dựng theo mô hình nào, độc lập hay phụ thuộc vào Chính phủ, thì ít nhiều NHTW cũng có những ảnh hƣởng và sự tƣơng tác nhất định đối với các hoạt động kinh tế tài chính của Chính phủ. Đối với mô hình NHTW độc lập với Chính phủ thì sự can thiệp của Chính phủ vào trong hoạt động của NHTW là rất hạn chế, tuy nhiên do hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của NHTW luôn sử dụng nghiệp vụ thị trƣờng mở làm công cụ để điều tiết khối lƣợng cung ứng tiền tệ. Do vậy, trái phiếu Chính phủ luôn đƣợc NHTW mua bán trên thị trƣờng mở nhằm điều tiết khối lƣợng cung ứng tiền tệ. Từ đó, trong một số trƣờng hợp, hoạt động của chính sách tài khóa do Chính phủ điều hành cũng có những tác động nhất định đến hoạt động của NHTW trong mô hình này.
Đối với mô hình NHTW phụ thuộc vào Chính phủ thì NHTW có thể đƣợc coi là một cơ quan đại diện của Chính phủ trong các dịch vụ tài chính Nhà nƣớc.