CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Cơ BẢN VỀ THÔNG TIN TÍN DỤNG 1. Thông tin tín dụng đối với hoạt động Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm "Thông tin" đã xuất hiện cách đây rất lâu nhưng mãi đến giữa thế kỷ 20 việc nghiên cứu về thông tin mới được đặc biệt coi trọng. Mặc dù việc nghiên cứu, ứng dụng thông tin và hệ thống thông tin đã có những bước phát triển như vũ bão, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về thông tin, việc tranh luận để đi đến thống nhất vẫn còn đang tiếp tục.
Tuy vậy mọi người đểu thừa nhận thông tin là đặc tính khách quan của vật chất. Các nhà khoa học còn tranh luận rất nhiều về hai câu hỏi: liệu thông tin có phản ánh gần đúng đặc điểm của thế giới vật chất hay không? và phai chăng thông tin thê hiện mức độ tổ chức của vât chất và liên quan đến sư xuất hiện của sự sống. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau thông tin, nhưng nếu xét về mặt ban chât và tác dụng của thông tin có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về thông tin: Thông tin là một phạm trù khoa học, là những thông báo về một đối tượng khách quan, nó phản ánh về mặt số lượng và chất lượng những đặc tính của các đối tượng hiện thực, hay khả năng trong một không gian và thời gian nhất định. Tuy còn có những quan điểm khác nhau nhưng theo các nhà khoa học thông tin có năm đặc điểm chính sau: 12 - Thông tin bao giờ cũng thuộc một hệ thống nhất định, và mỗi một hệ thông bao giờ cũng cần những thông tin và nguồn thông tin nhất định.
Như vậy hệ thống và thông tin là một cặp phạm trù biện chứng. - Thông tin bao giờ cũng được biểu diễn truyền và bảo quản lưu trữ trên những "vật mang tin" khác nhau. Do đó xuất hiện khái niệm: "tin được mang và "vật mang tin" là một cặp phạm trù biện chứng. - Thông tin bao giờ cũng xuất hiện trong mối quan hệ phức tạp của vật chất, trong mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực, giữa cái xác định và cái không xác định, giữa cái tính toán được và không tính toán được.
- Thông tin chỉ tồn tại và xuất hiện trong một quá trình nhất định. - Thông tin là một đặc điểm chung của vật chất. Thông tin tín dụng Thong tin tin dụng là một loại tin đăc thù, có tính chuyên ngành phuc vụ cho hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng trong nền kinh tế thi tiương. TTTD co đay đu cac đặc điêm cua thông tin nói chung nó xuất hiện khi các chủ thể (doanh nghiệp, cá nhân) tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội có phát sinh nhu cầu quan hệ vay vốn Ngân hàng.
TTTD bao gồm: các thông tin về khách hàng như: Thông tin về tài chính, dư nợ bảo đảm tiền vay, tình hình hoạt động, tư cách pháp nhân của khách hàng có quan hệ với TCTD.; thông tin kinh tế, thị trường trong và ngoài nước và các thông tin khác có liên quan đến hoạt động Ngân hàng. Có thể chia TTTD thành các loại chính như sau: Thong tin vê khách hàng: bao gồm thông tin về khách hàng vay là doanh nghiệp và thông tin về khách hàng vay là cá nhân. Thông tin về khách hàng vay là doanh nghiệp: Là thông tin về các doanh nghiệp đang có quan hệ tín dụng tại các TCTD. Thông tin này được thể hiện qua bộ hồ sơ của khách hàng được lưu trữ trong kho dữ liệu của hệ thống 13 Ngân hàng.
Để giúp các Ngân hàng có thêm thông tin đánh giá khách hàng. Bộ hồ sơ của khách hàng bao gồm các nội dung cơ bản sau: - Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp - Tình hình vay nợ của doanh nghiệp tại Ngân hàng - Tóm tắt tình hình tài chính và phi tài chính - Tóm tắt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin về khách hàng vay là cá nhân: Là thông tin về các cá nhân kinh doanh đang có quan hệ tín dụng tại các TCTD. Thông tin này đơn giản hơn nhiều so với khách hàng vay là doanh nghiệp, bao gồm họ tên, chứng minh thu, địa chỉ, tình hình quan hệ tín dụng, tài sản bảo đảm.của người vay. Để phản ánh đúng thực trạng khách hàng đòi hỏi thông tin về khách hàng phải thường xuyên được bổ sung, cập nhật.
- Thông tin kinh tê tổng hựp trong nước: là những thông tin tổng hợp về môi trường hoạt động của các chủ thể kinh doanh, cụ thể là thông tin về chế độ, chính sách của Nhà nước ta về kinh tế, tiền tệ, quản lý ngoại hối, quản lý doanh nghiệp, xuất nhập khẩu; thông tin về thị trường, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, thông tin kinh tế ngành. có liên quan đến hoạt động Ngân hàng. - 1hông tin ngoài nước: gồm thông tin về doanh nghiệp nước ngoài có ý định làm ăn với Việt Nam, thông tin về kinh tế thương mại trong khu vực và thế giới. Để TTTD hữu ích đối với hoạt động tín dụng của các NHTM, đòi hỏi TTTD phải được cập nhật kịp thời đảm bảo tính liên tục và chính xác.
Hoạt động thông tin tín dụng Hoạt động TTTD là quá trình thu thập tập hợp, lữu trữ, xử lý thông tin tín dụng để thông báo cho các Ngân hàng nhằm mục đích giúp các Ngân hàng lựa chọn đối tượng đầu tư và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng. 14 Có thê nói nhờ hoạt động TTTD mà TTTD ở dang tiềm năng trở nên hữu ích đối với hoạt động tín dụng của các NHTM. Việc thu hút các khách hàng sử dụng TTTD thể hiện hiệu quả của hoạt động TTTD. Sự cần thiết của thông tin tín dụng đối với hoạt động Ngân hàng Trong kỷ nguyên thông tin hiện nay, thông tin ngày càng xâm nhập sâu vào mọi mặt đời sống xã hội và thông tin, đã thực sự trở thành một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh.
Thậm trí thông tin đuợc coi là một nguồn tài nguyên, nguồn lực quí giá cho quá trình tăng truởng và phát triển kinh tế đối với mỗi nuớc. Vì thế, các quốc gia đều chú trọng khai thác và sử dụng hữu ích nguồn tài nguyên này. Thông tin tín dụng cũng vậy nó đang dan trơ thanh nhu cau cân thiêt, câp bách phuc vu hoat đông kinh doanh của Ngân hàng trong nền kinh tế thị truờng. Thực tiên hoạt động kinh doanh tiền tệ của các Ngân hàng thuơng mại Việt Nam khi buớc vào nền kinh tế thị truờng cho thấy thông tin tín dụng nhằm góp phần ngăn ngừa và hạn chế rủi ro là không thể thiếu, bởi lẽ: Một là, do quan hệ vay muợn giữa khách hàng và Ngân hàng ngày càng phát triển, đa dạng và phức tạp đòi hỏi TCTD phải có TTTD để phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Trong cơ chế thị truờng, việc vay muợn của một doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi một Ngân hàng nhu truớc đây, mà có the quan hệ VỚI nhiêu TCTD. Mặt khác, quan hê của khách hàng với Ngân hang khong chi đơn thuân la quan hê vay muơn thông qua viêc Ngân hànơ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn thiếu hụt của khách hàng mà còn là quan hệ trong lĩnh vực dịch vụ, tu vấn, bảo đảm nhiều lợi ích khác cho khách hàng nhu bao lanh, môi giới, thanh toán. Do đó, TTTD có vai trò rất quan trong đối với hoạt động của các Ngân hàng. Hai là, do yêu cầu đảm bảo an toàn vốn tín dụng đối với NHTM: về phía các Ngân hàng thuơng mại, việc bỏ vốn cho vay là nhằm mục đích đáp 15 ung nhu cau vôn đê phát tnên sản xuất kinh doanh của khách hàng dưa trên nguyên tắc vốn cho vay phải được sử dụng đúng mục đích, được hoàn trả đung hạn ca gôc, lãi theo thoá thuận.
Mặt khác, do Ngân hàng là trung gian tài chính đi vay (dưới hình thức huy động tiền gửi, phát hành kỳ phiếu.) để cho vay, nên vì uy tín của Ngân hàng, giữu lòng tin của người gửi tiền, các Ngân hàng luôn phải đảm bảo khả năng hoàn trả cho người gửi tiền khi họ có nhu câu, trong khi đó tài sản cho vay là các khoản nợ trước mắt chưa nhượng bán được ở thị trường và việc trả nợ của khách hàng lại chưa chắc chắn Ngân hang luon chiu ap lực cao vê khả năng chi trả tiền gửi nhất là trong trường hợp các khoản cho vay không được hoàn trả đúng hạn. Vì vậy để tạo điều kiện cho khả năng chi trả của mình Ngân hàng phải biết rõ mình cần đầu tư vào đâu, có chắc chắn trả nợ được không hoặc mức độ rủi ro nào có thể chấp nhận được. Ba la, đôi VỚI Ngân hàng Nhà nước: Thông tin tín dung là cơ sở để NHNN nghiên cứu xây dựng và ban hành các chính sách có liên quan đến hoạt động tín dụng góp phần tổ chức thực hiện tốt chính sách tiền tệ thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng là Ngân hàng của các TCTD. Bon la, do đoi hoi khách quan của nền kinh tê thi trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Nền kinh tế của chúng ta đang chuyển từ cơ chế tập bung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, Trong bối cảnh hội nhập kinh tê là xu thế tất yếu khách quan, do vậy hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, mât kha năng thanh toán, phá sản của các doanh nghiệp được coi là tất yếu.
Vì vậy, thông tin tín dụng là rất cần thiết cho kinh doanh của các TCTD nói chung, các Ngân hàng nói riêng. Nhu cầu thông tin tín dụng không chỉ đơn thuần là thông tin trong nước mà còn cần thông tin của thế giới và khu vực, thông tin về các đối tác nước ngoài muốn hợp tác làm ăn với Việt Nam hoặc đầu tư vốn vào Việt Nam. Thông tin kịp thời, đảm bảo độ tin cậy giúp 16 cho TCTD, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế lựa chọn đúng đối tượng đầu tư sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả, từng bước mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tóm lại, thông tin tín dụng rất cần thiết đối với hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, do vậy chúng ta phải nghiên cứu từng bước hoàn thiện và phát triển hoạt động thông tin tín dụng trong ngành Ngân hàng, góp phần ngăn ngừa rủi ro cho các TCTD lành mạnh hoá hệ thống tài chính, giảm thiểu nguy cơ tiềm ẩn của khủng hoảng tài chính, tiền tệ.