CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Khu vực h ệ thống thuỷ lợi Nam Sách thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, trong vùng châu thổ sông Hồng, có toạ độ địa lý nằm trong khoảng 20055’53” đến P P 21005’11” vĩ độ Bắc và 106016’28” đến 106024’67” kinh độ Đông. Khu vực nằm P P P P P P trọn trong địa phận hành chính của huyện Nam Sách và 4 xã của thành phố Hải Dương, được giới hạn: - Phía Bắc giáp thị xã Chí Linh.
- Phía Tây giáp huyện Cẩm Giàng và huyện Gia Bình (tỉnh Bắc Ninh). - Phía Đông giáp huyện Kinh Môn và Kim Thành. - Phía Nam giáp thành phố Hải Dương và huyện Thanh Hà. Khu vực cũng được bao bọc bởi các con sông là: sông Thái Bình ở phía Tây và phía Nam, sông Kinh Thầy ở phía Bắc, sông Rạng ở phía Đông và sông Hương ở phía Nam.
Với tổng diện tích tự nhiên 13.288,05 ha gồm thị trấn Nam Sách, các xã Nam Hưng, Nam Tân, Hợp Tiến, Hiệp Cát , Thanh Quang , Quốc Tuấn, Nam Chính , An Bình, Nam Trung, An Sơn , Cộng Hòa , Thái Tân , An Lâm , Phú Điền , Nam Hồng , Hồng Phong , Đồng Lạc , Minh Tân của huyện Nam Sách và các xã Ái Quốc, An Châu, Thượng Đạt, Nam Đồng của thành phố Hải Dương, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 8.252,13 ha, đất phi nông nghiệp là 5.022,19 ha, đất chưa sử dụng là 13,73 ha. Đặc điểm địa hình Nhìn chung địa hình khu vực nghiên cứu nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Cao độ trung bình từ +1,5m đến +2,0m, phía Đông có một số vùng trũng xen lẫn vùng đất cao. Đất đai chủ yếu do quá trình bồi đắp phù sa của sông Thái Bình , nhóm đất này thuận tiện cho việc sản xuất nhiều loại cây có năng suất cao, đất đai bằng phẳ ng màu mỡ phù hợp với trồng lúa , cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
Địa hình vùng nghiên cứu có thể chia thành 3 tiểu vùng: - Tiểu vùng có địa hình t ương đối cao: thuộc địa phận các xã phía Bắc huyện Nam Sách. Đây là vùng đất vàn và vàn cao , cốt đất trung bình từ +2,0m đến +2,5m, thuộc hệ phù sa sông Thái Bình, là vùng canh tác 3 vụ thuận lợi. - Tiểu vùng có địa hình trung bình : thuộc địa phận các xã phía Nam huyện Nam Sách và các xã An Châu, Thượng Đạt của thành phố Hải Dương. Vùng này có Luận văn thạc sĩ Học viên: Nguyễn Đức Văn - Lớp CH19Q 4 địa hình thuộc vàn , vàn thấp, cốt đất trung bình từ +1,5m đến +2,0m, là vùng dễ bị ngập nước.
- Tiểu vùng có địa hình thấp trũ ng: thuộc địa phận các xã phía Đông huyện Nam Sách và các xã Ái Quốc , Nam Đồng của thành phố Hải Dương. Vùng thấp trũng này có cốt đất trung bình từ +1,0m đến +1,5m. Đây là vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều và chịu ảnh hưởng của mặn xâm nhập. Diện tích khu vực nghiên cứu phân theo cao độ Cao độ (m) <+1,0 1,0-1,5 1,5-2,0 2,0-2,5 2,5-3,0 3,0-3,5 3,5-4,0 Tổng Diện tích (ha) 1.
Thổ nhưỡng, địa chất 1. Đặc điểm địa chất: Trong vùng nghiên cứu nằm trong cấu trúc địa chất thuộc sụt trũng sông Thái Bình. Nhìn chung vùng nghiên cứu có mặt của trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp lên các thành tạo Mesozoi và trầm tích Đệ tứ phủ trực tiếp lên các trầm tích Neogen. Các trầm tích hệ tầng Hải Hưng (Q21-2 hh) phân bố rộng rãi; hệ tầng phân bố P P từ trên mặt đến độ sâu 34m.
Hệ tầng có 3 kiểu nguồn gốc: - Trầm tích sông - biển (amQ21-2 hh): Thành phần ở phía dưới là sét, bột sét, P P cát hạt mịn màu xám đen. Phần trên là bột sét màu xám nâu, lẫn tàn tích thực vật. - Trầm tích biển - đầm lầy (mbQ21-2 hh): Thành phần ở phía dưới là cát lãn ít P P sét và bột, chứa di tích thực vật màu xám đen. Phần trên là sét, bột cát; toàn lớp màu xám đen chứa mảnh vỏ động vật và di tích thực vật.
- Trầm tích biển (mQ21-2 hh): Thành phần trầm tích khá đồng nhất, chủ yếu P P gồm sét bột màu xám, xám xanh bị phong hóa yếu nên có màu vàng. Đặc điểm thổ nhưỡng: Lưu vực tưới tiêu của hệ thống thuỷ lợi Nam Sách là vùng đồng bằng được hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Thái Bình, hầu như toàn bộ đất canh tác của khu vực hàng năm đều được tưới bằng phù sa lấy qua các cống dưới đê. Để chống lại lũ lụt hàng năm, nhân dân đã đắp hệ thống đê bao quanh, do đó đã tạo ra những vùng trũng, không được bồi đắp hoặc bồi đắp ít hơn so với vùng ven sông, ngoài đê. Quá trình bồi tụ, hình thành và phát triển của đất ở từng khu vực có khác nhau đã tạo nên sự đa dạng về loại hình đất trong thành hệ thống, nhưng nhìn chung đều là loại ít chua và chua.
Tầng mặt có màu nâu xám, tầng dưới xám; thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng hoặc sét; độ PH từ 4 - 4,5, mùn ở tầng mặt giàu (>2,0%), đạm tầng mặt giầu, lân tổng số nghèo, lượng Cation kiềm trao đổi thấp. Luận văn thạc sĩ Học viên: Nguyễn Đức Văn - Lớp CH19Q 5 Đặc trưng thổ nhưỡng vùng nghiên cứu gồm có các loại đất: Sét pha nhẹ màu ghi lẫn nâu đỏ, trạng thái dẻo cứng; sét pha nặng màu xám đen lẫn gụ nâu, trạng thái dẻo cứng đến dẻo mềm có lẫn hữu cơ; sét màu nâu gụ, trạng thái dẻo cứng. Loại đất khu vực này thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và một số loại cây công nghiệp ngắn ngày. Đặc điểm khí tượng thuỷ văn 1.
Đặc điểm khí hậu: Khu vực thủy lợi Nam Sách nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng , trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có 2 mùa là mùa đông lạnh khô, ít mưa và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, lắm bão; xen kẽ giữa 2 mùa là thời gian chuyển tiếp. Mùa hè (mùa mưa) từ tháng 5 đến tháng 10, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8; mùa đông khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mưa ít nhất vào tháng 12 và tháng 1. - Nhiệt độ: Chế độ nhiệt của khu vực nghiên cứu tương đối đồng nhất , nhiệt độ trung bình hàng năm 23,30C, tổng tích ôn cả năm khoản g 8.5000C, có những ngày nắng P P P P nóng nhiệt độ lên 370C - 380C, những ngày lạnh nhất n hiệt độ xuống 50C - 60C P P P P P P P P (tháng 1 và tháng 2). Nhiệt độ cực tiểu trung bình tháng thấp nhất là 16,10C nhỏ P P thua nhiệt độ trung bình năm 30%.
- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm trong khu vực tỉnh Hải Dương nói chung , khu vực nghiên cứu nói riêng có trị số tương đối lớn , độ ẩm trung bình nhiều năm là 85% (thấp nhất vào tháng 11, 12 và cao nhất thường vào tháng 3, 4). Thời kỳ mùa mưa độ ẩm đạt cao 87%, mùa khô độ ẩm giảm xuống có khi chỏ còn khoảng 80%. - Gió: Hướng gió thịnh hành trên địa bàn tỉnh Hải Dương cũng như khu vực nghiên cứu là hướng Đông và Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau. Trong các tháng mùa hè hướng gió thịnh hành là Nam và Đông Nam.
Tốc độ gió bình quân toàn vùng trong năm đạt 2,4m/s tại trạm Hải Dương. - Số giờ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm của v ùng nghiên cứu đạt khá cao (1. Số giờ nắng cao nhất rơi vào các tháng 5 và 7, mỗi ngày có bình quân từ 6,2 - 6,7 giờ/ngày. Số giờ nắng thấp nhất rơi vào các tháng 2 và 3, trùng với thời kỳ có mưa phùn ẩm ướt , trời thường u ám và mây thấp che phủ , mỗi ngày có bình quân từ 1,4 - 1,6 giờ/ngày.
Nếu xét về góc độ nông nghiệp , thì đây là thời kỳ sâu bệnh hại lúa và hoa màu phát triển mạnh nhất. Nhìn chung các tháng khác trong Luận văn thạc sĩ Học viên: Nguyễn Đức Văn - Lớp CH19Q 6 năm, số giờ nắng đủ để lúa, hoa màu và các loại cây trồng quang hợp phát triển thuận lợi. - Bốc hơi: Lượng bốc hơi hàng năm của vùng nghiên cứu tương đối lớn. Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 6, 7 đạt trên dưới 100 mm/tháng - đây là thời kỳ nhiều nắng.
Vào tháng 8 và 9, lúc này mưa nhiều , độ ẩm cao , lượng bốc hơi giảm xuống đến 78 mm/tháng, đến các tháng 2, 3 và 4 lượng bốc hơi giảm xuống chỉ còn 53 mm/tháng. - Mưa: + Lượng mưa năm: Do vị trí của khu vực nghiên cứu nằm ở đồng bằng Bắc Bộ lại có dãy cánh cung Đông Triều nằm ở phía Đông Bắc chắn gió Đông Nam mang hơi ẩm từ biển vào nên lượng mưa ở đây tương đối lớn. Lượng mưa trung bình nhiều năm tại Nam Sách biến động từ 1.700 mm, trung bình là 1.577 mm/năm, lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, được chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm 1.308 mm chiếm khoảng 83% tổng lượng mưa cả năm, các tháng còn lại chỉ còn 17% tổng lượng mưa cả năm. Tháng 7, 8 là tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm, tổng lượng mưa hai tháng này chiếm 35,6% tổng lượng mưa cả năm, đây là thời gian tập trung mưa bão và lũ lụt.
Tuy nhiên cũng có thể xảy ra hạn hán lớn như tháng 8/1965 và tháng 7/1966, mực nước sông ngoài lớn nhưng không dám lấy vào để tưới đã gây hạn vào vụ Mùa. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm khoảng 26% tổng lượng mưa cả năm, chủ yếu là dạng mưa phùn, mưa nhỏ. Trong đó tháng 10 và tháng 4 là hai tháng chuyển tiếp mùa, lượng mưa hai tháng này còn khá lớn, năm tháng còn lại là các tháng 11, 12, 1, 2, 3 có lượng mưa nhỏ hơn 50 mm/tháng; hai tháng ít mưa nhất là tháng 12, 1 có lượng mưa nhỏ hơn 30 mm/tháng. Nhìn chung tổng lượng mưa năm biến động không lớn, hệ số biến động mưa năm (Cv) chỉ từ 0,2 - 0,26.
Các tháng ít mưa có hệ số Cv tương đối lớn, thường là lớn hơn 1.