CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÂP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN – CẤP NƯỚC SẠCH TẠI THỊ TRẤN TỨ KỲ TỈNH HẢI DƯƠNG 1.1 Tổng quan chung về cấp nước nông thôn ở Việt Nam.Vai trò của nước sạch đối với đời sống con người Nước là một vật phẩm quý giá nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho hành tinh của chúng ta và chính nó là khởi nguồn của sự sống, vạn vật không có nước không thể tồn tại, con người cũng không là ngoại lệ. Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thủy năng), điều hòa khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên.1: Nguồn nước đem lại sự sống trên trái đất Trong cơ thể con người nước chiếm tới 75% trọng lượng, hàng ngày mỗi người cần tối thiểu 60 – 80 lít nước, tối đa tới 150 – 200 lít nước hoặc nhiều hơn cho sinh hoạt, riêng lượng nước ăn uống vào cơ thể ít nhất cũng tới 1,5 – 2 lít mỗi ngày. 5 Nước nuôi dưỡng, làm sạch cơ thể, đối với tư duy của con người phụ thuộc vào nước, không có nước thì không có năng lượng tạo ra hoạt động của hệ thần kinh. Tiêu chuẩn dùng nước cho từng đầu người thường tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của từng vùng và điều kiện cấp nước.
Mức sử dụng nước trong gia đình cho các yêu cầu trên thường biến động khá lớn do mức sống, điều kiện khí hậu, lãnh thổ, tập quán… khác nhau. Nông thôn và vấn đề cấp nước: Nông thôn là một địa bàn sinh sống của dân cư, trong đó người dân có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau (làng, xóm, thôn, bản, ấp…). Hiện nay, do thực hiện các chính sách phát triển kinh tế nông thôn của nhà nước (sự phát triển của kinh tế hộ, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác xã.) nên các điểm dân cư nông thôn của nước ta đã có sự thay đổi đáng kể cả về quy mô và chất lượng cuộc sống. Nguồn nước được sử dụng cung cấp cho mục đích sinh hoạt của người dân nông thôn bao gồm các loại: - Nước mặt: sông, suối, ao, hồ.
- Nước ngầm: là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất. Hiện nay ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựng và vận hành hệ thống cấp nước tập trung nhằm phục vụ nhu cầu nước sạch cho một hoặc nhiều điểm dân cư lân cận. Đây là hướng đi được nhà nước khuyến khích vì nó huy động được sự tham gia của cộng đồng dân cư nông thôn và chất lượng nước cung cấp được đảm bảo hơn. Nước sạch và vệ sinh môi trường là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của mọi người và đang trở thành nhu cầu thiết yếu trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tính đến nay vẫn còn hơn 70% người dân nông thôn sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh. Theo mục tiêu của Chính Phủ đã đưa ra trong chiến lược quốc 6 gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2025 tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ng.Vai trò của nước sạch đối với đời sống dân cư nông thôn Ngoài những phân tích về vai trò của nước sạch đối với đời sống con người nói chung, thì với các điểm dân cư nông thôn hoạt động cung cấp nước sạch cũng giữ vị trí rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình CNH – HĐH nông nghiệp và giải quyết các vấn đề giữa nông thôn và thành thị. Trước hết có thể thấy cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ với Chiến lược xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, nếu người dân nông thôn không được tiếp cận và sử dụng nguồn nước đảm bảo về chất lượng thì hầu như mọi nỗ lực của chúng ta cho công tác xóa đói giảm nghèo là không có ý nghĩa.
Khu vực nông thôn là nơi tỷ lệ nhiễm các dịch bệnh liên quan tới việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo còn lớn. Do người dân nông thôn vẫn giữ những thói quen sử dụng nước truyền thống không đảm bảo vệ sinh. Dân cư nông thôn ở Việt Nam vẫn đang sử dụng nguồn nước cho mục đích sinh hoạt bằng các loại hình cấp nước khác như: Giếng khoan, giếng đào, bể chứa nước mưa. Cụ thể đó là các loại hình cung cấp nước dưới đây: + Đối với nguồn nước ngầm: Có 2 loại hình được sử dụng chủ yếu tại các vùng nông thôn trong huyện đó là giếng khơi và giếng khoan.
Nguồn nước ngầm hiện nay ở huyện chưa có thống kê về trữ lượng nhưng đây vẫn là một trong nguồn sử dụng quan trọng của người dân. + Đối với nguồn nước mưa: Người dân xây dựng các bể chứa nước mưa có thể tích từ 2-5 m3 7 Hình1.2: Nguồn nước mưa, giếng và nước ngầm được sử dụng ở nông thôn d. Tình hình cấp nước nông thôn ở Việt Nam Hiên nay theo Trung tâm Quốc gia NS và VSMTNT có tổng số CTCN Nông thôn hiện có tại 63 tỉnh là 15.093 công trình với qui mô nhỏ nhất phục vụ cho 15 hộ; qui mô lớn nhất phục vụ cho 25.700 hộ và tổng số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 48. Tỉ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 62% lên đến 80%.
Trong đó, tỉ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sạch đạt QCVN 02/2009 của Bộ Y tế là 40%. Một số tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ cấp nước phù hợp với điều kiện địa hình, khí tượng thủy văn từng địa phương đã được áp dụng. Trong đó cấp nước nhỏ lẻ đã được cải tiến và áp dụng công nghệ xử lý nước như dàn mưa và bể lọc cát để xử lý sắt và ô nhiễm Asen từ các giếng khoan sử dụng nước nhầm tầng nông. Nhiều thiết bị đồng bộ bằng nhiều loại vật liệu phù hợp để xử lý nước được giới thiệu và áp dụng trên cả nước.
Một số công trình cấp nước tập trung đã áp dụng 8 công nghệ lọc tự động không van, xử lý hóa học (xử lý sắt, mangan, asen, xử lý độ cứng .), hệ thống bơm biến tần, hệ thống tin học trong quản lý các công trình cấp nước. Công nghệ hồ treo được cải tiến có quy mô và chất lượng tương đối tốt góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm nguồn nước ở vùng cao núi đá trong mùa khô. Khi xãy ra lũ lụt các địa phương đã sử dụng cloramin B và Aqua tab, túi PUR. để xử lý nước phục vụ ăn uống.
* Các công nghệ xử lý nước ở Việt Nam hiện nay Thực tế hiện nay công nghệ xử lý nước sạch cho các vùng nông thôn rất đa dạng, từ công nghệ xử lý đơn giản cho các công trình cấp nước nhỏ lẻ đến đến các công nghệ xử lý hiện đại cho các hệ thống nước tập trung quy mô lớn. + Các công nghệ xử lý nước mặt có hàm lượng cặn <=2000mg/l (Tài liệu môn học cấp nước chi phí thấp - Tiến sĩ Đoàn Thu Hà. Nguồn Trạm Bể trộn Bể phản Bể lắng nước ứng bơm C1 Phèn, Khử trùng Mạng Trạm bơm Bể chứa Bể lọc phân phối cấp 2 nhanh nước sạch Nguồn Bể lắng trong có Trạm bơm Bể trộn nước lớp cặn lơ lũng cấp 1 Phèn, soda Khử trùng Mạng Trạm bơm Bể chứa Bể lọc phân phối cấp 2 nước sạch nhanh 9 Nguồn Trạm bơm Bể trộn Bể lọc tiếp xúc nước cấp 1 Phèn,soda Khử trùng Mạng Trạm bơm Bể chứa phân phối cấp 2 nước sạch + Các công nghệ xử lý nước mặt có hàm lượng cặn >= 2000mg/l Bể lắng Trạm Bể trộn Bể phản Bể lắng sơ bộ bơm I ứng Phèn, soda Khử trùng Mạng Trạm Bể chứa Bể lọc phân phối bơm II nước sạch nhanh Hồ sơ Trạm Bể trộn Bể phản Bể lắng lắng bơm cấp ứng Phèn, soda Khử trùng Mạng Trạm bơm Bể chứa Bể lọc phân phối cấp 2 nước sạch nhanh 10 + Các công nghệ xử lý nước ngầm Giếng Giàn mưa Bể lắng khoan thùng quạt gió tiếp xúc Khử trùng Mạng Trạm bơm Bể chứa Bể lọc phân phối cấp 2 nước sạch nhanh Giếng Bầu trộn khoan khí Khử trùng Mạng Trạm bơm Bể chứa Bể lọc phân phối cấp 2 nước sạch áp lực e. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước nông thôn Ngày nay mặc dù đã có những tiến bộ trong việc khoan dò, dẫn thủy và thanh lọc nhưng các vấn đề về chất lượng, số lượng nguồn nước uống vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của rất nhiều quốc gia.
Ngày nay khi chúng ta đã dành ưu tiên quá mức cho phát triển kinh tế, khi con người phải sống chung với những nguồn nước “chết” thì chúng ta mới hiểu rằng chúng ta có lẽ sẽ bị cạn kiệt nguồn nước ngọt quý hiếm này.3: Ô nhiễm nguồn nước nông thôn do người dân đổ rác ra sông Nguyên nhân căn bản là nguồn nước ngọt dùng được cho nhu cầu sinh hoạt của con người đang bị thu hẹp về diện tích và tình trạng ô nhiễm đang hết sức căng thẳng. Bên cạnh đó các quốc gia đặc biệt là các nước đang và kém phát triển chưa thực sự dành những ưu tiên cũng như chưa có hành động quyết liệt để đảm bảo nước sạch cho người dân. Đối với nông thôn nước ta các nguồn ô nhiễm nước chủ yếu từ các lĩnh vực: Ô nhiễm nước do sản xuất nông nghiệp. Do hiện nay Việt Nam có 70% dân số đang sinh sống ở nông thôn, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao.4: Nước thải chăn nuôi, thuốc trừ sâu nông thôn Trong sản xuất nông nghiệp do tập quán canh tác còn lạc hậu, tình trạng lạm dụng các thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học dẫn đến các nguồn nước ở sông, hồ, kênh mương bị ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước và sức khỏe của người.
Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp tại các khu vực nông thôn. Mặc dù tình trạng ô nhiễm môi trường nước do công nghiệp ở các vùng nông thôn chưa gay gắt, bức xúc như tại các thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng…Tuy nhiên cùng với quá trình đô thị hóa nông thôn thì mức độ ô nhiễm cũng đang gia tăng.2 Hiện trạng về cấp nước sạch tại thị trấn Tứ Kỳ.1 Tổng quan chung khu vực nghiên cứu: a.