ĐẶT VẤN ĐỀ HST rừng có vai trò rất quan trọng đối với sự sống và tồn tại của con ngƣời. Xét về lợi ích kinh tế, rừng tạo ra giá trị sử dụng hiện vật và giá trị sử dụng trừu tƣợng. Giá trị sử dụng hiện vật của rừng, bao gồm: sản xuất, cung cấp cho xã hội gỗ và các loại lâm sản khác. Giá trị sử dụng trừu tƣợng của rừng: điều tiết, bảo vệ đất, nguồn nƣớc, hấp thụ các-bon, hạn chế lũ lụt, lũ quét, bảo tồn ĐDSH, cảnh quan vẻ đẹp thiên nhiên, … (Nguyễn Tuấn Phú, 2008).
Việc duy trì bảo vệ các HST rừng thƣờng đƣợc thực hiện bởi một nhóm nhỏ, trong khi ngƣời hƣởng lợi là số đông. Giữa hai bên hƣởng lợi và duy trì lợi ích cần có sự bù đắp công bằng thông qua một cơ chế kinh tế. Cơ chế này cũng tạo ra một nguồn ngân sách cho việc đầu tƣ phục hồi và duy trì bền vững các giá trị HST rừng. Đó chính là ý nghĩa ban đầu của sự ra đời của cơ chế chi trả DVMT.
Năm 2008, Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 4 năm 2008 của Thủ tƣớng Chính phủ đã cho phép thí điểm chính sách chi trả DVMTR tại 2 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Thông qua việc thí điểm này một cơ chế tài chính giữa nguời cung ứng DVMTR và ngƣời sử dụng DVMTR ủy thác qua Quỹ BV&PTR mang lại hiệu quả và đƣợc các cấp, các ngành, các bên liên quan đánh giá cao. Trên cơ sở đó, ngày 24/9/2010, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP đã đƣợc ban hành nhằm triển khai chính sách chi trả DVMTR trên phạm vi toàn quốc từ 01/01/2011 và tiếp theo đó là Nghị định 147/2016/NĐ-CP ngày 02/11/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Qua 10 năm triển khai thực hiện, chính sách chi trả DVMTR đƣợc coi là bƣớc ngoặt về chính sách đối với nghề rừng ở Việt Nam, đây là một bƣớc tiến mới, thể hiện sự thay đổi đột phá, có tính chiến lƣợc không chỉ trong tƣ duy, nhận thức mà còn cả hành động trong suốt quá trình thiết kế, xây dựng, ban hành và thực thi chính sách kinh tế đối với ngành Lâm nghiệp ở Việt Nam; chuyển hƣớng tiếp cận hoàn toàn dựa vào nguồn ngân sách Nhà nƣớc theo truyền thống sang tăng cƣờng huy động các nguồn vốn đầu tƣ ngoài ngân sách Nhà nƣớc, nguồn vốn xã hội cho phát triển ngành.
Chính sách này đƣợc thiết lập, vận hành ở tầm quy mô quốc gia, đƣợc các cấp, các ngành và ngƣời dân địa phƣơng rất ủng hộ; có tác động lan tỏa, tạo ra hiệu ứng tích cực, phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trƣờng, mang lại động lực, lợi ích chung cho cộng đồng, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa các chủ rừng trong vai trò là bên cung ứng dịch vụ với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hƣởng lợi từ môi trƣờng rừng (cơ sở thủy điện, nƣớc sạch và du lịch) trong 1 c vai trò là bên sử dụng DVMT. Lâm Đồng là một trong hai tỉnh thí điểm chính sách chi trả DVMTR sớm nhất cả nƣớc, sau 8 năm (2011-2018) thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR cũng nhƣ 02 năm (2009-2010) thực hiện thí điểm chính sách chi trả DVMTR theo Quyết định số 380/QĐ-TTgđã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong việc huy động các nguồn lực xã hội cho BV&PTR, góp phần cải thiện sinh kế cho ngƣời làm nghề rừng,đặc biệt là các hộ ĐBDTTS ở khu vực vùng sâu, vùng xa, sống gần rừng trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh Lâm Đồng vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, vƣớng mắc trong chia sẻ lợi ích từ chính sách chi trả DVMTR. Do đó, cần phải nghiên cứu một cách khách quan về thực trạng thực hiện chính sách chi trả DVMTR, những vấn đề liên quan về nhận thức, sinh kế, những khó khăn, thuận lợi sẽ là cơ sở thực tiễn cần phân tích, từ đó đƣa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả của chính sách chi trả DVMTRtrong thời gian tới là việc làm cần thiết.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài“Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng”. 2 c Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan a) Dịch vụ môi trường Theo tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới, DVMT là “Các điều kiện và các mối quan hệ mà thông qua đó các HST tự nhiên và các loài phát triển tồn tại và phục vụ cho cuộc sống con ngƣời” (http://ipsard.
DVMT là những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con ngƣời hƣởng thụ từ các chức năng của HST. DVMT đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế và sức khỏe cho cộng đồng trên thế giới. Theo báo cáo đánh giá HST thiên niên kỷ, HST đƣợc phân thành 4 nhóm chức năng, hay 4 loại dịch vụ của HST, với mục đích khác nhau về kinh tế-xã hội, bao gồm: - Dịch vụ sản xuất: thực phẩm, nƣớc sạch, nguyên liệu, chất đốt, nguồn gen, … - Dịch vụ điều tiết: phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hòa khí hậu, điều tiết nƣớc, lọc nƣớc, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh, … - Dịch vụ văn hóa: giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịch sinh thái, lịch sử, khoa học và giáo dục,… - Dịch vụ hỗ trợ: cấu tạo đất, điều hòa dinh dƣỡng, … (http://www. b) Chi trả dịch vụ môi trường Chi trả DVMT là tạo ra lợi ích cho các cá nhân và cộng đồng để bảo vệ các DVMT bằng cách bồi hoàn cho họ khoản chi phí phát sinh từ việc quản lý và cung cấp những dịch vụ này (Mayrand và Paquin, 2004).
Theo định nghĩa của Wunder (2005), chi trả DVMT bao gồm năm yếu tố chính là: (1) giao dịch tự nguyện; (2) một DVMT đƣợc xác định r ràng; (3) có ít nhất một ngƣời mua dịch vụ; (4) ít nhất một ngƣời cung cấp dịch vụ; (5) phải có tính điều kiện (ngƣời mua chỉ chi trả khi mà ngƣời cung cấp đảm bảo việc cung cấp dịch vụ đƣợc diễn ra liên tục). Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới cũng đƣa ra khái niệm về chi trả DVMT đƣợc đƣa ra nhƣ sau: “Ngƣời mua (tự nguyện) đồng ý trả tiền hoặc các khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên và đất bềnvững hơn mà nó cung cấp dịch vụ HST xác định” (http://ipsard. Kinh nghiệm thực hiện các dự án chi trả dịch vụ môi trường rừng Các chƣơng trình chi trả DVMTR đã đƣợc áp dụng đầu tiên ở các nƣớc phát triển tại Mỹ Latinh, châu Âu, châu Phi. Dần dần các chƣơng trình chi trả DVMTR cũng đã đƣợc phát triển và thực hiện thí điểm tại châu Á nhƣ Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện để thành lập cơ chế chi trả DVMTR.
Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về chi trả DVMTR đối với quản lý lƣu vực đầu nguồn. Các nƣớc châu Âu là những nƣớc đi tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng chi trả DVMTR. Trong đó Hoa Kỳ là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mô hình chi trả DVMTR sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thực hiện Chƣơng trình duy trì bảo tồn năm 1985, đã chi trả cho nông dân để trồng thảm thực vật lƣu niên trên đất trồng nhạy cảm về môi trƣờng. Hiện nay, cơ chế chi trả DVMTR đƣợc áp dụng thành công và hiệu quả, tạo ra cơ chế quản lý bền vững các tài nguyên thiên nhiên (Huỳnh Thị Mai, 2008).
Ở Pháp, công ty nƣớc đóng chai Perrier Vittel từ năm 1993 đã cung cấp tài chính cho nông dân ở vùng đầu nguồn và vùng lọc nƣớc để xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp và chuyển đổi sang hoạt động nông nghiệp hữu cơ. Ở Đức, Chính phủ đã đầu tƣ một loạt chƣơng trình để chi trả cho các chủ đất tƣ nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng cƣờng hoặc duy trì dịch vụ HST. Những dự án này bao gồm trợ cấp cho sản xuất Cà phê và Ca cao trong bóng râm, QLR bền vững, bảo tồn đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nƣớc Mỹ Latinh, gồm Honduras, Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hòa Dominica. Ở Châu Mỹ Latinh, đã đƣợc triển khai trên phạm vi nhiều quốc gia.
Các nƣớc có thể kể tới gồm: Brazil, Mexico; Costa Rica; Ecuado; Colombia,. Cụ thể ở Costa Rica đƣợc coi là một trong những nƣớc tiên phong thực hiện các chƣơng trình dự án về chi trả DVMT trên thế giới từ những năm 1996. Khởi đầu cho hàng loạt các dự án chi trả DVMT ở quốc gia này là khung pháp lý cho thực hiện chi trả DVMT đƣợc ban hành theo Luật Lâm nghiệp sửa đổi số 7575 năm 1996. Luật này quy định 4 loại DVMTR: lƣu giữ các-bon; điều tiết nguồn nƣớc; ĐDSH và cảnh quan (FAO 2014; Hung 2011).
Thêm vào đó, luật Lâm nghiệp quy định quyền các- bon và DVMTR thuộc về các chủ rừng. Kết quả là Costa Rica đƣợc coi là quốc gia đã xúc tiến bán tín chỉ các-bon ra thị trƣờng thế giới và cam kết mục tiêu cân bằng 4 c phát thải các-bon vào năm 2020. Theo đề án chi trả DVMTR tỉnh Đồng Nai, ở Costa Rica một số mô hình có sự tham gia của một số khách sạn vào cơ chế chi trả DVMT để bảo vệ lƣu vực. Cơ sở của việc chi trả này là nhận thức về mối tƣơng quan chặt chẽ giữa cung cấp DVMT nƣớc do bảo vệ lƣu vực và ngƣời hƣởng là ngành du lịch.
Lý do là các hoạt động ngành du lịch phụ thuộc rất lớn vào trữ lƣợng và chất lƣợng nƣớc. Vì vậy, từ năm 2005 một số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 đô la Mỹ cho mỗi ha đất của các chủ đất địa phƣơng và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của mô hình chi trả DVMT. Tuy nhiên, cũng ở Costa Rica, vẫn chƣa có một cơ chế đƣợc thừa nhận chung nào dựa vào lợi ích của mọi ngƣời đƣợc chi trả trực tiếp từ vẻ đẹp cảnh quan và bảo tồn ĐDSH.