Tổng quan nghiên cứu

Khai thác và bảo vệ an ninh nguồn nước là thách thức sống còn đối với sự phát triển bền vững của khu vực miền núi phía Bắc. Hệ thống thủy lợi Nà Sản thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giữ vai trò hạ tầng trọng yếu nhằm cung cấp nguồn nước tưới cho 1.450 ha đất canh tác nông nghiệp, đồng thời tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho 10.060 người dân và phục vụ đàn gia súc hơn 10.000 con tại vùng cao nguyên Nà Sản. Tuy nhiên, trước áp lực suy giảm dòng chảy mùa khô, hạ tầng thủy lợi cũ xuống cấp và tác động tiêu cực từ thời tiết cực đoan, hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại địa phương trước đây còn thấp với thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 39 triệu đồng trên mỗi hecta. Đặc biệt, trong giai đoạn 2012 - 2019, tổng giá trị thiệt hại do thiên tai, hạn hán và lũ quét đối với sản xuất nông nghiệp toàn huyện đã vượt mức 79 tỷ đồng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước của tác giả Thanongsack Phaysavath tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Đánh giá định lượng khả năng nguồn nước và nhu cầu dùng nước thực tế của hệ thống thủy lợi Nà Sản trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu; từ đó đề xuất các giải pháp công trình kết hợp phi công trình nhằm nâng cao hiệu quả cấp nước toàn diện. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 4 xã trọng điểm gồm Chiềng Dong, Chiềng Mai, Chiềng Mung và Hát Lót, dựa trên chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thực đo liên tục từ năm 1961 đến 2019 cùng tầm nhìn quy hoạch đến năm 2035 và năm 2050. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong việc giải quyết tình trạng thiếu nước canh tác cho 1.050 ha cà phê chuyên canh, nâng tỷ lệ dân số được dùng nước hợp vệ sinh từ mức dưới 5% hiện nay lên mức tiêu chuẩn an toàn, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng nông - lâm - thủy sản 3,3%/năm của tỉnh Sơn La.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các nền tảng lý thuyết thủy văn công trình và mô hình hóa khí hậu hiện đại. Trọng tâm là lý thuyết cân bằng nước lưu vực sông và phương pháp điều tiết dòng chảy hồ chứa nước nhằm xác định tương quan giữa lượng nước đến tự nhiên và tổng nhu cầu tiêu thụ nước đa mục tiêu. Về mặt khí hậu, đề tài áp dụng khung đánh giá biến đổi khí hậu theo Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu kết hợp Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2016. Trong đó, kịch bản nồng độ khí nhà kính đại diện nồng độ trung bình thấp là nền tảng tính toán chính.

Mô hình tính toán nhu cầu nước cho các loại cây trồng dựa trên phương pháp bốc thoát hơi nước tiêu chuẩn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, kết hợp hệ số cây trồng theo từng thời kỳ sinh trưởng thực tế tại vùng Tây Bắc. Các khái niệm và chỉ tiêu kỹ thuật then chốt được lượng hóa trong mô hình bao gồm: Dung tích toàn bộ hồ chứa đạt 3,99 triệu m3, dung tích hữu ích 3,51 triệu m3, dung tích chết 0,48 triệu m3; tần suất cấp nước thiết kế cho nông nghiệp đạt 85%; lưu lượng lũ thiết kế tương ứng tần suất 1% và tần suất kiểm tra 0,2%.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của luận văn được thu thập toàn diện từ Trạm Khí tượng Quốc gia Sơn La với chuỗi quan trắc liên tục 59 năm từ năm 1961 đến năm 2019, nằm cách khu vực dự án 16 km, bảo đảm tính nhất quán cao về các biến số nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi ống Piche và số giờ nắng. Dữ liệu kinh tế - xã hội và cơ cấu sử dụng đất được trích xuất từ Niên giám thống kê huyện Mai Sơn năm 2019 với tổng dân số 26.576 người và hơn 115.300 ha đất nông nghiệp toàn huyện.

Về phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu chọn mẫu toàn phần chuỗi số liệu lịch sử 59 năm nhằm phân tích xác suất thống kê thủy văn, đồng thời khoanh vùng mẫu không gian tập trung tại 4 xã hưởng lợi trực tiếp từ cụm công trình hồ Chiềng Dong, đập bản Ban và kênh chuyển nước. Phương pháp phân tích hệ thống kết hợp mô hình hóa cân bằng nước được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc mô phỏng quá trình tương tác phức tạp giữa lưu lượng dòng chảy biến đổi theo mùa và các đối tượng sử dụng nước cạnh tranh nhau. Quy trình phân tích được thiết lập theo dòng thời gian từ giai đoạn cơ sở 1986 - 2005, giai đoạn thực trạng 2006 - 2019, đến hai mốc dự báo tương lai là giai đoạn 2016 - 2035 và mốc quy hoạch dài hạn năm 2050.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích kịch bản biến đổi khí hậu cho thấy xu thế biến đổi nhiệt - ẩm diễn ra rõ rệt tại vùng nghiên cứu. Theo kịch bản nồng độ trung bình thấp, nhiệt độ trung bình năm tại khu vực Mai Sơn tăng 0,7°C trong giai đoạn 2016 - 2035 và tăng 1,6°C vào năm 2050 so với thời kỳ cơ sở 1986 - 2005. Mặc dù tổng lượng mưa năm có xu hướng tăng từ 7,0% lên 15,5%, nhưng phân bố lượng mưa theo mùa lại có sự phân hóa cực đoan: Lượng mưa mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau giảm khoảng 6,1% trong giai đoạn giữa thế kỷ, làm trầm trọng thêm nguy cơ hạn hán cục bộ.

Thứ hai, chế độ dòng chảy tự nhiên của suối Nậm Dong và suối Nậm Mua mang tính bất đối xứng nghiêm trọng. Lượng dòng chảy trong 5 tháng mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm tới 77% tổng lượng dòng chảy cả năm, trong khi 7 tháng mùa khô chỉ đóng góp 23%. Dòng chảy kiệt tự nhiên vào các tháng 2, 3 và 4 hoàn toàn không thể đáp ứng nhu cầu tưới tại mặt ruộng nếu không có công trình tích trữ điều tiết.

Thứ ba, tổng nhu cầu dùng nước của hệ thống gia tăng nhanh chóng qua các thời kỳ do sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang vùng chuyên canh giá trị cao. Trong tổng số 1.450 ha đất canh tác, diện tích cây cà phê chiếm tỷ trọng áp đảo với 1.050 ha (tương đương 72,41%), lúa nước chiếm 180 ha (12,41%) và cây trồng hàng năm chiếm 220 ha (15,17%). Nhu cầu nước tưới nông nghiệp kết hợp nước cấp sinh hoạt cho 10.060 dân cư và đàn gia súc 10.000 con tạo ra sự thiếu hụt cục bộ nếu hệ thống dẫn nước không được nâng cấp.

Thứ tư, tính toán cân bằng nước khẳng định công trình hồ Chiềng Dong với dung tích hữu ích 3,51 triệu m3 cùng lưu lượng xả thiết kế 1,3 m3/s qua cống lấy nước chính diện đóng vai trò quyết định trong việc bổ sung nguồn nước thiếu hụt cho đập bản Ban và hệ thống dẫn sang cao nguyên Nà Sản, giải quyết triệt để bài toán thiếu nước với tần suất bảo đảm 85%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng căng thẳng nguồn nước trong mùa khô bắt nguồn từ hiện tượng bốc hơi bề mặt tăng cao khi nhiệt độ không khí gia tăng. Lượng bốc hơi trung bình năm đo được tại trạm Sơn La đạt 949,3 mm, trong đó các tháng 3 và tháng 4 có mức bốc hơi cao nhất đạt từ 113,7 mm đến 120,6 mm/tháng, trùng đúng vào giai đoạn tưới dưỡng quan trọng của cây cà phê và lúa vụ xuân.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Viện Quy hoạch Thủy lợi trên lưu vực sông Mã khi chỉ ra rằng nhu cầu nước đến năm 2050 sẽ tăng 35,4% trong khi dòng chảy kiệt suy giảm từ 5% đến 17%. Đồng thời, nghiên cứu cũng củng cố nhận định của các công trình đánh giá tác động biến đổi khí hậu trên 16 hồ chứa vùng Tây Bắc về nguy cơ suy giảm dung tích hữu ích thực tế do bồi lắng lòng hồ và tổn thất thấm bốc hơi.

Để minh họa trực quan các kết quả phân tích cân bằng nước, dữ liệu có thể được thể hiện qua đồ thị đường đặc tính lòng hồ Chiềng Dong biểu diễn mối quan hệ giữa cao trình mực nước từ 740,5 m đến 760,0 m với diện tích mặt nước và dung tích trữ; kết hợp cùng bảng tổng hợp phân phối dòng chảy tháng và biểu đồ cột so sánh tương quan Cung - Cầu nước tại công trình đầu mối đập bản Ban, giúp các nhà quản lý dễ dàng xác định thời điểm xả tiếp nước tối ưu trong năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện và vận hành an toàn cụm công trình đầu mối hồ chứa Chiềng Dong với kết cấu đập bê tông trọng lực có chiều cao đập lớn nhất 35,5 m, chiều dài đỉnh đập 113 m và cao trình đỉnh đập 762,0 m; nâng cấp đập dâng bản Ban với chiều dài đỉnh đập 43 m để thu gom toàn bộ dòng chảy từ suối Nậm Dong và suối Nậm Mua. Mục tiêu bảo đảm tích nước đạt dung tích thiết kế 3,99 triệu m3, hoàn thành trong giai đoạn 2022 - 2023 do Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các Công trình Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Sơn La làm chủ đầu tư.

Thứ hai, kiên cố hóa và hiện đại hóa hệ thống truyền dẫn chuyển nước, bao gồm tuyến kênh hở bê tông cốt thép bản Ban dài 1,67 km và đường hầm dẫn nước không áp dài 1,66 km (kích thước mặt cắt 1,8 x 2,1 m) với lưu lượng thiết kế đạt 1,3 m3/s; lắp đặt hoàn chỉnh mạng lưới tuyến ống dẫn nước bằng vật liệu nhựa áp lực gồm 13,22 km đường ống chính, 11,60 km ống cấp 1 và 23,10 km ống cấp 2. Mục tiêu cắt giảm tỷ lệ tổn thất nước do thấm và bốc hơi dọc tuyến từ 25% xuống dưới 8%, triển khai hoàn tất vào năm 2023.

Thứ ba, nhân rộng các giải pháp kỹ thuật tưới tiết kiệm nước tiên tiến như công nghệ tưới nhỏ giọt và tưới phun sương tự động cho 1.050 ha vùng chuyên canh cà phê và cây ăn quả tại xã Chiềng Mung và Hát Lót. Mục tiêu tiết kiệm từ 40% đến 60% lượng nước tưới so với phương thức tưới tràn truyền thống, thực hiện theo lộ trình từ năm 2023 đến 2025 dưới sự chủ trì của Phòng Nông nghiệp huyện Mai Sơn và các Hợp tác xã nông nghiệp.

Thứ tư, xây dựng và ban hành quy trình vận hành điều tiết liên hồ chứa linh hoạt giữa hồ Chiềng Dong, đập bản Ban và hồ Xum Lo 1 dựa trên hệ thống quan trắc tự động; đồng thời tăng cường trồng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực nhằm giảm thiểu bùn cát bồi lắng công trình. Chủ thể thực hiện là Công ty TNHH Một thành viên Quản lý Khai thác Công trình Thủy lợi Sơn La phối hợp cùng chính quyền địa phương định kỳ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý và quy hoạch thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh miền núi phía Bắc: Luận văn cung cấp phương pháp luận và cơ sở dữ liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch phân bổ tài nguyên nước cấp huyện và lập kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu cấp tỉnh.

Thứ hai, kỹ sư thiết kế và tư vấn thủy lợi: Tài liệu mang lại bộ thông số kỹ thuật chi tiết về thiết kế công trình hầm dẫn nước không áp dài 1,66 km trong điều kiện địa chất vùng karst, kỹ thuật bố trí mạng lưới đường ống áp lực cao và phương pháp tính toán thủy văn cho lưu vực vừa và nhỏ.

Thứ ba, các ban quản lý dự án, doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao tại cao nguyên Nà Sản: Tài liệu giúp xác định chính xác định mức tiêu thụ nước của cây cà phê, cây ăn quả và cơ cấu mùa vụ tối ưu để chủ động kế hoạch khai thác nước mặt bền vững.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước, Thủy văn học và Quản lý môi trường: Đây là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình tích hợp các kịch bản khí hậu quốc gia vào mô hình tính toán cân bằng nước thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao luận văn lại lựa chọn kịch bản nồng độ khí nhà kính RCP4.5 để tính toán cân bằng nước?
Trả lời: Kịch bản RCP4.5 đại diện cho mức phát thải trung bình thấp có tính khả thi cao nhất đối với các cam kết giảm phát thải quốc gia, hoàn toàn phù hợp với mục tiêu tăng trưởng nông nghiệp 3,3%/năm của tỉnh Sơn La đến năm 2050, giúp dự báo mức tăng nhiệt độ 0,7°C - 1,6°C sát thực tế mà không làm đội chi phí đầu tư công trình.

Câu hỏi 2: Hệ thống thủy lợi Nà Sản đáp ứng nhu cầu cấp nước cho những đối tượng cụ thể nào?
Trả lời: Công trình chịu trách nhiệm cấp nước tưới cho 1.450 ha đất sản xuất nông nghiệp (gồm 1.050 ha cà phê, 180 ha lúa, 220 ha hoa màu), cấp nước sinh hoạt cho 10.060 nhân khẩu, phục vụ hơn 10.000 con gia súc, cấp nguồn cho 30 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản và duy trì dòng chảy môi trường sinh thái.

Câu hỏi 3: Vai trò kỹ thuật nổi bật của công trình đập bản Ban trong toàn bộ hệ thống là gì?
Trả lời: Đập bản Ban nằm ở vị trí hợp lưu chiến lược của suối Nậm Dong và suối Nậm Mua, đóng vai trò công trình dâng và điều tiết đón nhận nước xả từ hồ Chiềng Dong kết hợp dòng chảy suối Nậm Mua để dẫn vào đường hầm chuyển nước lưu lượng 1,3 m3/s sang cao nguyên Nà Sản.

Câu hỏi 4: Độ tin cậy của chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn trong nghiên cứu được bảo đảm như thế nào?
Trả lời: Độ tin cậy được bảo đảm tuyệt đối nhờ sử dụng chuỗi số liệu quan trắc khí quyển liên tục 59 năm (1961 - 2019) tại Trạm Khí tượng Quốc gia Sơn La với đầy đủ các chỉ tiêu mưa, nhiệt độ, bốc hơi ống Piche và độ ẩm, kết hợp các trạm đo mưa chuyên dùng tại huyện Mai Sơn.

Câu hỏi 5: Áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước mang lại lợi ích gì cho vùng cà phê Mai Sơn?
Trả lời: Giải pháp tưới nhỏ giọt giúp cắt giảm từ 40% đến 60% lượng nước tiêu thụ so với tưới tràn, giữ ẩm đất ổn định trong các tháng khô hạn đỉnh điểm (tháng 2 - tháng 4), hạn chế rửa trôi phân bón trên đất dốc và nâng cao năng suất thu hoạch hạt cà phê thêm 15% - 20%.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập cơ sở khoa học vững chắc trong việc đánh giá tác động kép của biến đổi khí hậu và áp lực phát triển kinh tế - xã hội đối với an ninh nguồn nước vùng cao nguyên Nà Sản.
  • Xác định chính xác cán cân nước lưu vực, chứng minh hồ chứa Chiềng Dong với dung tích hữu ích 3,51 triệu m3 bảo đảm giải quyết triệt để tình trạng thiếu nước cho 1.450 ha đất canh tác và 10.060 người dân.
  • Đề xuất đồng bộ chuỗi giải pháp công trình bao gồm hồ chứa Chiềng Dong, đập bản Ban, hầm dẫn nước dài 1,66 km và 47,92 km đường ống áp lực HDPE, kết hợp biện pháp phi công trình tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước.
  • Cung cấp luận cứ kỹ thuật quan trọng giúp địa phương giảm thiểu thiệt hại thiên tai nông nghiệp vốn từng vượt 79 tỷ đồng trong giai đoạn 2012 - 2019.
  • Định hình khung quản trị tài nguyên nước thông minh, làm tiền đề vững chắc thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp giá trị cao của tỉnh Sơn La tầm nhìn đến năm 2050.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã hoàn thiện mô hình tính toán cân bằng nước đa mục tiêu thích ứng biến đổi khí hậu cho hệ thống thủy lợi vùng đồi núi đá vôi karst. Các bước tiếp theo cần tập trung hoàn tất thi công tuyến đường hầm chuyển nước và số hóa quy trình điều tiết hồ chứa trong giai đoạn 2023 - 2025. Các cơ quan quản lý và đơn vị tư vấn thủy lợi hãy chủ động ứng dụng ngay các kết quả tính toán và giải pháp kỹ thuật từ luận văn này vào công tác quy hoạch và vận hành thực tế tại địa phương.