CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 1. Cơ sở lí luận của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 1. Các khái niệm liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: - Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Khoản 11).
- Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Khoản 12). - Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (Khoản 14). - Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất nhưng đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất còn chưa thu hồi được (Khoản 13). Tái định cư: Luật Đất đai không giải thích khái niệm tái định cư; tuy nhiên, nhiều văn bản vẫn quy định về tái định cư.
Có thể hiểu rằng, tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở. Hình thức tái định cư bao gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền (Phan Trung Hiền, 2017a). Giải phóng mặt bằng: Trong Luật Đất đai và Luật Xây dựng hiện hành không có định nghĩa về giải phóng mặt bằng (GPMB), mặc dù có sử dụng cụm từ này. Có thể nói, GPMB là một quá trình “làm sạch” mặt bằng thông qua việc thực hiện di dời các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu và một bộ phận dân cư trên một diện tích đất nhất định nhằm thực hiện quy hoạch, cải tạo hoặc xây dựng công trình mới (Phan Trung Hiền, 2017a).
Vì vậy, có thể hiểu GPMB bao gồm các hoạt động chính là: thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. 5 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: - Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật” (Điều 158). - Quyền Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu (Điều 179).
- Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 191). - Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản (Điều 192). Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và vấn đề thu hồi đất * Quyền sở hữu đất đai và vấn đề thu hồi đất Điều 19, Hiến pháp 1980, quy định gộp các hình thức sở hữu đất đai trước đây thành một hình thức - Đó là “Sở hữu toàn dân”.
Hiến pháp 1992 vẫn quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” (Điều 17 và Điều 18). Đến Hiến pháp 2013, tiếp tục quy định “Đất đai. thuộc sở hữu toàn dân”, nhưng đã quy định rõ hơn “do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 53) và quy định “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” (Điều 54). Với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu như ở nước ta thì Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai có những quyền sau: - Quyền chiếm hữu đất đai của Nhà nước: Nhà nước nói chung và Chính quyền các cấp tự nắm giữ tổng tài nguyên đất đai thuộc phạm vi lãnh thổ, hành chính của mình, sự nắm giữ này là tuyệt đối và không điều kiện, không thời hạn.
Nhà nước quyết định giao một phần quyền chiếm hữu của mình cho người sử dụng trên những diện tích đất cụ thể với thời gian cụ thể. Người sử dụng đất tuy có quyền chiếm hữu nhưng là chiếm hữu để sử dụng theo quy định cho phép của chủ sở hữu là Nhà nước. 6 - Quyền sử dụng đất đai của Nhà nước: Nhà nước không tự mình trực tiếp sử dụng đất đai mà tổ chức cho toàn xã hội sử dụng thông qua việc giao đất, cho thuê đất đối với “người sử dụng”; Nhà nước thực hiện quyền sử dụng đất đai một cách gián tiếp thông qua thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất. - Quyền của định đoạt đất đai của Nhà nước là tuyệt đối, thể hiện bằng các hoạt động cụ thể như sau: (i) Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho chuyển mục đích sử dụng; (ii) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất đã giao, đã cho thuê; (iii) Lập hồ sơ quản lí, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (iv) Quy định các quyền và nghĩa vụ cho người sử dụng đất; (v) Quyết định mục đích, hạn mức, thời hạn sử dụng cho từng diện tích cụ thể; (vi) Quy định chính sách tài chính đất.
Trong các hoạt động thể hiện quyền định đoạt đất đai của Nhà nước, có quyền lấy lại (thu hồi) các diện tích đất đã giao, đã cho thuê. Trong trường hợp này, pháp luật đất đai không dùng từ “trưng mua” do lập luận Nhà nước không mua lại những cái thuộc về sở hữu của mình mà là lấy lại, thu hồi lại (Tôn Gia Huyên, 2005). Do vậy, hiện nay ở Việt Nam chỉ có Nhà nước mới có quyền thu hồi đất. * Quyền sử dụng đất đai và vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Theo Điều 5, Luật Đất đai 2013, người trực tiếp sử dụng đất gồm 8 chủ thể sau: cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.
Nhà nước là chủ sở hữu đại diện cho toàn dân, không trực tiếp sử dụng đất, mà trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể trên đây trực tiếp sử dụng theo hình thức giao đất hoặc cho thuê đất (Trần Quốc Toản, 1993). Quyền sử dụng đất là một tính chất đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam. Quyền sử dụng đất được coi là quyền tài sản, người sử dụng đất thu được những lợi ích từ việc sử dụng đất. Chính vì vậy, khi nhà nước thu hồi đất, Nhà nước cần phải bồi thường những lợi ích của người sử dụng đất bị thiệt hại.
Do đó, tại Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Mối quan hệ giữa địa tô và xác định giá đất để bồi thường Các Mác (1967) kết luận, lợi nhuận thu được từ đất đai bao gồm 3 loại địa tô: (i) Địa tô chênh lệch 1 được hình thành bởi các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên như độ phì tự nhiên, vị trí đất…; (ii) Địa tô chênh lệch 2 được hình thành do sự chênh lệch về mức độ đầu tư của con người giữa hai thửa đất cùng diện tích; (iii) Địa tô tuyệt đối hình thành do sự phân phối lại địa tô chênh lệch giữa người sở hữu và người sử dụng. Theo Nguyễn Đình Bồng và nnk (2012), với đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu như ở nước ta thì địa tô chênh lệch 1 và địa tô tuyệt đối sẽ được thu toàn bộ cho ngân sách Nhà nước còn địa tô chênh lệch 2 là của người đầu tư vào đất. Giá đất và thuế đất phải được hình thành trên cơ sở phân tích, xác định đúng địa tô chênh lệch 1 thuộc nhà nước và địa tô chênh lệch 2 thuộc nhà đầu tư.
Đây là biện pháp hữu hiệu để tạo được nguồn thu cho ngân sách cũng như khuyến khích được người sử dụng đất đầu tư vào đất có hiệu quả. Theo Nguyễn Đình Kháng và Vũ Văn Phúc (2000), việc xác định giá đất của Nhà nước dựa vào xác định giá trị của các loại địa tô sẽ phản ánh đúng giá thị trường đích thực của đất đai. Nhà nước xác định giá đất để bồi thường khi thu hồi cũng cần căn cứ vào giá trị các loại địa tô thì mới đảm bảo ngang giá thị trường. Quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất thu hồi Giải quyết lợi ích kinh tế - xã hội không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất của mỗi chủ thể tham gia trong quan hệ đất đai mà còn đảm bảo công bằng giữa các chủ thể, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển đúng hướng và cho sự phát triển của các lợi ích khác (Paul Samuelson và cs, 2002).
Một phần nguồn lực đất đai được sử dụng vẫn chưa có hiệu quả, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước mà nguyên nhân chủ yếu là chưa giải quyết được quan hệ lợi ích kinh tế - xã hội trong các quan hệ đất đai giữa 3 bên là: Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi. Tình trạng chung hiện nay là các chủ thể đang ra sức khai thác, chuyển đổi nhiều diện tích đất nông nghiệp phì nhiêu sang các loại đất phi nông nghiệp, trong khi người nông dân bị mất tư liệu sản xuất, thiếu việc làm, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp chưa được coi trọng. Quan hệ lợi ích giữa 3 bên hiện nay còn nhiều bất cập; người sử dụng đất bị thu hồi luôn mong muốn được bồi thường thỏa đáng; các nhà đầu tư luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi cách (Chu Văn Thỉnh, 2000).