Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực làm việc. Chương 2: Phân tích thực trạng tạo động lực làm việc cho nhân viên tại công ty TNHH MTV Lữ Hành HG Sài Gòn. Chương 3: Giải pháp nâng cao động lực làm việc cho nhân viên tại công ty TNHH MTV Lữ Hành HG Sài Gòn. 123doc 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1.
Khái niệm về động lực làm việc Định nghĩa về động lực được đề cập rất nhiều trên thế giới, một số định nghĩa tiêu biểu về động lực bao gồm: Theo Mitchell (1982): “Động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện nhằm đạt mục tiêu”. Theo Robbins (1998) cho rằng: “Động lực làm việc hoặc động viên khuyến khích trong công việc được định nghĩa là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thoả mãn theo khả năng nỗ lực của họ”. Theo Bùi Anh Tuấn (2009) định nghĩa: “Động lực lao động là những yếu tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) đưa ra khái niệm: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Bên cạnh các khái niệm về động lực đã được nêu ra thì theo Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Theo mô hình này, khả năng có thể được đào tạo tốt hơn bằng giáo dục kinh nghiệm hoặc bằng cách giao tiếp với người khác. Còn động lực thì thể hiện rõ những khát khao và sự tự nguyện nỗ lực của nhân viên trong quá trình làm việc. Kết quả thực hiện công việc phải được đánh giá đồng thời dựa trên hai yếu tố là khả năng và động lực, nếu một trong hai yếu tố bằng không thì cũng cho ra kết quả bằng không.
123doc 11 Từ những định nghĩa trên cho thấy động lực làm việc xuất phát từ bản thân mỗi người, là sự khát khao, tự nguyện kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để đạt được mục tiêu. Như vậy, động lực làm việc có những đặc điểm sau: Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Mỗi nhân viên đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người nhân viên và giúp nhà lãnh đạo khai thác được tiềm năng của nhân viên mình trong quá trình làm việc. Động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Tuy nhiên động lực làm việc chỉ là nguồn gốc chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, và trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Các học thuyết về động lực làm việc Theo Bartol & Martin (1998) chia các lý thuyết về động viên thành ba nhóm: thuyết nhu cầu, thuyết nhận thức và thuyết củng cố.
Thuyết nhu cầu đưa ra những yếu tố thúc đẩy con người làm việc thông qua việc làm thoả mãn nhu cầu, gồm có: Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943), thuyết ERG của Clayton Alderfer (1969), thuyết nhu cầu đạt được của David Mc. Thuyết nhận thức chú trọng vào động viên khuyến khích thông qua phần thưởng theo mong đợi, gồm có: Thuyết công bằng của J. 123doc 12 Thuyết củng cố xem hành vi của con người được xác định bởi các hệ quả môi trường. Thay vì xem xét bên trong cá nhân để giải thích động cơ như thuyết nhu cầu, thì thuyết củng cố tập trung vào môi trường bên ngoài và hệ quả của nó.
Đại diện chính của thuyết củng cố là nhà tâm lý học B. Thuyết nhu cầu 1. Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Lý thuyết nhu cầu của con người được phát triển bởi Abraham Maslow (1943) là một nền tảng quan trọng của lịch sử tư tưởng quản trị. Maslow (1943) đã định nghĩa nhu cầu như một sự thiếu hụt về phương diện sinh lý hay tâm lý mà một người cảm thấy cần được thoả mãn.
Nhu cầu sẽ tạo ra sức ép tác động đến thái độ và hành vi của con người đối với công việc. Theo đó, nhu cầu con người được phân thành năm loại và thể hiện ở hai cấp bậc: Các nhu cầu bậc thấp gồm: Nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn và nhu cầu xã hội. Các nhu cầu bậc cao gồm: Nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện. Trong khi nhu cầu bậc thấp thể hiện mong muốn được thoả mãn về vật chất và xã hội của cá nhân, thì nhu cầu bậc cao thể hiện các ước muốn phát triển và tăng trưởng về tâm lý.
Các nhu cầu cần được thoả mãn theo thứ tự từ thấp lên cao, từ nhu cầu sinh học đến nhu cầu tự thể hiện.1: Những yếu tố thoả mãn nhu cầu bậc thấp. Nhu cầu sinh học - Giờ làm việc hợp lý. Nhu cầu sinh học, thực phẩm, nước, sự - Sự tiện nghi vật chất trong công việc. hoàn hảo về thể chất.
- Nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng khi làm việc. Nhu cầu an toàn - An toàn môi trường làm việc. An toàn, được bảo vệ và sự ổn định - An toàn công việc. trong đời sống hàng ngày.
- An toàn lương và thưởng. Nhu cầu xã hội - Đồng nghiệp thân thiện. Nhu cầu được thương yêu, tác động đến - Tương tác với khách hàng. người khác, thuộc về nhóm.
- Người giám sát dễ chịu.2: Những yếu tố thoả mãn nhu cầu bậc cao. Nhu cầu đƣợc tôn trọng - Công việc có trách nhiệm quan trọng. Được kính mến, tôn trọng, uy tín, công - Có sự thăng tiến cao. nhận, tự trọng, cảm nhận về năng lực và - Khen thưởng và thừa nhận từ người sự thông thạo.
Nhu cầu tự thể hiện - Công việc thay đổi và thách thức. Cấp cao nhất: Nhu cầu cho sự hoàn - Tham gia trong việc ra quyết định. thiện, phát triển và sử dụng khả năng ở - Công việc linh hoạt và độc lập. mức cao và sáng tạo nhất.
Nguồn: Nguyễn Hùng Phong và các cộng sự (2015, trang 334). Thuyết ERG của Clayton Alderfer (1969) Một trong các nỗ lực hứa hẹn nhất xây dựng trên những phát hiện của Maslow (1943) là lý thuyết ERG (viết tắt của ba từ Existence, Relatedness, Growth) được đề xuất bởi giáo sư Clayton Alderfer (1969). Lý thuyết này chia năm nhu cầu của Maslow (1943) thành ba nhóm: Nhu cầu tồn tại (Existence needs): Là ước muốn đáp ứng về sinh học và sự hoàn hảo về vật chất. Nhu cầu quan hệ (Relatedness needs): Là ước muốn thoả mãn các quan hệ tương tác giữa các cá nhân.
Nhu cầu phát triển (Growth needs): Là ước muốn tăng trưởng và phát triển về tâm lý. Thuyết ERG có chút khác biệt so với tư tưởng của Maslow (1943) là không giả định rằng các nhu cầu cần phải được thoả mãn theo thứ tự từ thấp đến cao, bất cứ một nhu cầu hay tất cả nhu cầu đều có thể tác động đến hành vi cá nhân ở một thời điểm nào đó và nhu cầu đã thoả mãn cũng không mất đi tính động viên của chúng. Như vậy, một nhu cầu bậc thấp hơn đã thoả mãn còn có thể được nhân viên mong muốn thoả mãn tiếp và vẫn ảnh hưởng đến hành vi khi một nhu cầu bậc cao chưa được thoả mãn. Thuyết nhu cầu đạt được của David Mc.Clelland (1985) Theo David Mc.Clelland (1985), con người sẽ đạt được hay phát triển ba nhu cầu: nhu cầu thành tựu, nhu cầu quyền lực và nhu cầu liên minh theo thời gian nhờ vào kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân.
Vì mỗi nhu cầu có thể được liên kết với một tập hợp các thứ tự ưu tiên khác nhau nên các nhà quản trị cần hiểu các nhu cầu này từ chính bản thân họ và từ người khác, đồng thời cố gắng thiết lập môi trường làm việc thích ứng với chúng. Nhu cầu thành tựu (Need for achievement): Là mong muốn làm điều gì đó tốt hơn hay hiệu suất hơn, để giải quyết vấn đề, hay để làm chủ các công việc phức tạp. Người có nhu cầu thành tựu cao dường như dồn hết năng lực của họ vào công việc. Thứ tự ưu tiên công việc của họ bao gồm: trách nhiệm cá nhân về các kết quả, các mục tiêu khả thi nhưng có sự thách thức và phản hồi về việc thực hiện công việc.
Nhu cầu quyền lực (Need for power): Là mong muốn kiểm soát người khác, tác động đến hành vi của họ, hoặc chịu trách nhiệm về họ. Mc Clelland (1985) phân biệt hai dạng nhu cầu quyền lực như sau: Nhu cầu quyền lực cá nhân (Personal power): Có tính khai thác và bao hàm việc lôi kéo người khác vào sự hài lòng cá nhân. Loại nhu cầu này không tạo ra sự thành công trong quản trị. Nhu cầu quyền lực xã hội (Social power): Liên quan việc sử dụng quyền lực hướng về việc thực hiện trách nhiệm xã hội, về các mục tiêu nhóm hoặc tổ chức thay vì lợi ích cá nhân.
Nhu cầu quyền lực xã hội thực sự là yếu tố thiết yếu đối với nhà lãnh đạo. Nhu cầu liên minh (Need for affiliation): Là mong muốn thiết lập và duy trì các quan hệ thân hữu và tình cảm với người khác. Người càng có nhu cầu liên minh cao thì sẽ càng có nhu cầu tìm kiếm các mối quan hệ bạn bè, sự thừa nhận của xã hội và thoả mãn các quan hệ tương tác cá nhân càng cao.