CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Khái niệm về động lực làm việc Nguồn nhân lực được xem là tài sản của Doanh nghiệp, là một trong những nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Trong đó, vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động. Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007, trang 128) đã định nghĩa “động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người”. Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức (Herzberg, 1959). Động lực làm việc là động cơ thúc đẩy nhân viên nỗ lực và sử dụng khả năng của mình để đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo đó, động lực làm việc là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc.
Động lực là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn sao cho chúng được ưu tiên hơn những nhu cầu khác. Tuy nhiên, động lực thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau. Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định, còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Như vậy, động cơ thúc đẩy ngụ ý xu thế đi tới một kết quả, còn sự thỏa mãn là một kết quả được thực hiện (Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011).
123doc 6 Nói tóm lại, những khái niệm về động lực làm việc cho thấy động lực lao động mang tính tự nguyện, được xuất phát từ bản thân người lao động, nó được tạo ra từ sự mong muốn, khao khát của bản thân người lao động muốn làm việc và cống hiến cho tổ chức. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm, được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực lao động có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Các lý thuyết về động lực Bartol và Martin (1998) đã chia các lý thuyết về động lực thành 3 nhóm: lý thuyết nhu cầu, lý thuyết nhận thức và lý thuyết củng cố.
Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu 2 nhóm lý thuyết là lý thuyết nhu cầu và lý thuyết nhận thức. Hai nhóm lý thuyết này nhấn mạnh đến việc tạo động lực làm việc cho người lao động thông qua những yếu tố làm thỏa mãn các nhu cầu của người lao động và đưa ra các phần thưởng theo mong đợi của họ và khiến họ cảm thấy công bằng. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow (1943) Theo Maslow, con người có 5 thứ bậc nhu cầu được chia thành: nhóm nhu cầu ở bậc thấp và nhóm nhu cầu ở bậc cao, phát triển theo hình bậc thang. Nhóm nhu cầu bậc thấp bao gồm nhu cầu sinh lý, an toàn và xã hội.
Nhóm nhu cầu bậc cao bao gồm nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện. Maslow cho rằng mỗi người có nhu cầu khác nhau và cần được thỏa mãn bằng các cách khác nhau, khi một nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thỏa mãn, thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng. Sự thỏa mãn nhu cầu các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có một nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn nhưng một nhu cầu được thỏa mãn cơ bản thì sẽ không còn tạo ra động lực (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007). Có thể nói, thuyết nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị.
Nhà quản trị phải hiểu nhu cầu của mỗi con người, cá nhân trong tổ 123doc 7 chức từ mức độ thấp nhất đến mức độ cao. Từ đó, nhà quản trị phải có những hành động, chính sách cụ thể để thỏa mãn những nhu cầu của người lao động từ các nhu cầu cơ bản của con người như: công cụ tiền lương, thưởng và phúc lợi; điều kiện làm việc; mối quan hệ trong công việc, sự ổn định của công việc,v. đến những nhu cầu cao hơn của người lao động sự thăng tiến, cơ hội phát triển,v. Việc từng bước đáp ứng được các nhu cầu của người lao động ở mỗi giai đoạn sẽ điều khiển được hành vi của họ, làm cho họ hăng say và chăm chỉ hơn trong công việc.
Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959) Tổng hợp kết quả nghiên cứu của mình, Herzberg chỉ ra 2 nhóm yếu tố liên quan đến động lực của người lao động. Theo Herzberg, nhóm yếu tố “duy trì” gồm các yếu tố thuộc phạm vi công việc như: các chính sách và chế độ quản trị của công ty, sự giám sát công việc, tiền lương, các quan hệ con người, các điều kiện làm việc. Nhóm yếu tố này có tác dụng duy trì trạng thái tinh thần tốt, ngăn ngừa sự bất mãn trong công việc. Đây là điều kiện cần để tạo động lực làm việc cho người lao động.
Tuy nhiên, nếu chỉ có sự hiện diện của chúng thì không đủ để tạo ra động lực và sự thảo mãn trong công việc. Nhóm yếu tố “thúc đẩy” liên quan trực tiếp đến nội dung công việc đảm nhận, gồm các yếu tố then chốt để tạo động lực trong công việc như: sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản chất bên trong của công việc, trách nhiệm lao động, sự thăng tiến. Đây là các yếu tố thuộc về công việc và về nhu cầu bản thân của người lao động, là điều kiện đủ để tạo động lực lao động. Nếu thiếu các yếu tố này thì người lao động sẽ không hài lòng, lười nhác và thiếu sự chú tâm vào công việc, điều đó liên quan trực tiếp đến sự bất ổn về tinh thần.
Như vậy, để tạo động lực làm việc cho người lao động thì nhà quản trị cần phải có những phương án cải thiện nhóm yếu tố “môi trường” như tạo môi trường làm việc an toàn, vệ sinh, môi trường làm việc thoải mái, quan hệ tốt với nhân viên,v. Bên cạnh đó, nhà quản trị nên tạo ra những cơ hội thăng tiến và phát triển 123doc 8 cho người lao động, thừa nhận những thành tích mà người lao động đạt được,v. nhằm thúc đẩy nhân viên hướng tới thành tích và sự thỏa mãn cao hơn. Tuy lý thuyết này đã chỉ ra được một loạt các yếu tố tác động tới động lực và sự thỏa mãn của người lao động nhưng nó cũng gây ra nhiều tranh cãi, một số nhà nghiên cứu phê phán rằng học thuyết này không hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì trên thực tế, đối với một người lao động cụ thể, các yếu tố này hoạt động đồng thời chứ không tách rời nhau (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007).
Lý thuyết ERG của Alderfer (1972) Clayton Alderfer, giáo sư đại học Yale đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của Maslow và đưa ra kết luận rằng: hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu, song ông cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: - Nhu cầu tồn tại: đó là đòi hỏi về vật chất và các yêu cầu cơ bản của con người như thức ăn, quần áo để mặc và chỗ ở để sống. - Nhu cầu quan hệ: là mong muốn thiết lập các mối quan hệ như quan hệ với các thành viên trong gia đình, quan hệ với đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới trong công việc. - Nhu cầu phát triển: là mong muốn phát triển bản thân, thể hiện ở việc làm có sáng tạo và năng suất cao, đồng thời có điều kiện thể hiện các khả năng của mình. Ngoài ra, ông còn cho rằng khi một nhu cầu nào đó bị cản trở và không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thỏa mãn các nhu cầu khác.
Nếu nhà quản lý nhận ra được tình trạng này, họ có thể tập trung để đáp ứng nhu cầu hiện thời của nhân viên. Điều này trái ngược với thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng con người chỉ nảy sinh nhu cầu cao hơn khi nhu cầu thấp đã được hài lòng. Vì vậy, để tạo động lực cho người lao động, nhà quản trị cần phải quan tâm đến nhu cầu hiện tại của người lao động là gì? nhu cầu nào đã được thỏa mãn? Nhu cầu tiếp theo cần được thỏa mãn là gì? Sau khi trả lời được các câu hỏi này thì nhà 123doc 9 quản trị sẽ có thể xác định được các phương pháp cần sử dụng để đáp ứng được nhu cầu của người lao động. Khi nhu cầu của người lao động được thỏa mãn thì động lực làm việc của họ cũng sẽ được nâng cao.
Lý thuyết kỳ vọng của V.Room (1964) Victor Vroom đưa ra lý thuyết kỳ vọng muốn nhấn mạnh mối quan hệ nhận thức: con người mong đợi cái gì? Về cơ bản, lý thuyết này cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng tương lai của họ trong tương lai. Mức độ hành động và động lực của một cá nhân phụ thuộc vào: - Mức độ mà cá nhân kỳ vọng về kết quả đạt được khi đã nỗ lực thực hiện công việc. - Mối quan hệ giữa phần thưởng của tổ chức với kết quả đạt được. - Tính hấp dẫn của phần thưởng đó với cá nhân.
Lý thuyết này gồm 3 biến số: - Mối quan hệ giữa nỗ lực và kết quả: thể hiện nhận thức của một cá nhân rằng mọi nỗ lực nhất định sẽ đem lại kết quả. Nếu một cá nhân nỗ lực ít thì kết quả kỳ vọng chỉ đạt ở mức khiêm tốn. Ngược lại, nếu nỗ lực hết sức để làm công việc thì kết quả kỳ vọng sẽ ở mức cao.